Tắc động mạch cẳng chân và bàn chân: chẩn đoán và điều trị

2016-11-05 04:41 PM

Toàn bộ các biểu hiện có thể có của bệnh mạch ở cẳng chân và bàn chân không thể mô tả ở đây, chỉ có thể trình bày những khía cạnh lâm sàng chủ yếu có giá trị ở những bệnh nhân này.

Xơ vữa động mạch là nguyên nhân gây ra hầu hết các bệnh động mạch. Tỷ lệ bệnh này tăng cùng với tuổi; dù rằng biểu hiện của bệnh có thể xuất hiện ở tuổi tứ tuần, nhưng khị trên 40 tuổi (đặc biệt nam giới) hầu hết thường bị nhiễm bệnh. Yếu tố nguy cơ gồm tăng cholerterol máu, đái tháo đường, hút thuốc lá và tăng huyết áp. Xơ vữa động mạch có xu hướng là một bệnh toàn thân với mức độ nào đó bao gồm tất cả các động mạch lớn, nhưng nó chỉ biểu hiện trên lâm sàng, khi tác động nặng nề vào một số hạn chế các động mạch. Hẹp và tắc lòng động mạch là biểu hiện thường gặp nhất của bệnh, nhưng thành động mạch suy yếu do mất elastin và collagen, kết quả làm giãn phình mạch cũng biểu hiện, và cả hai hậu quả này có thể biểu hiện trên cùng một cá thể. Các bệnh động mạch ít gặp hơn bao gồm viêm động mạch (cả động mạch lớn và nhỏ), viêm mạch tạo huyết khối nghẽn (bệnh Buerger), loạn sản xơ của động mạch nội tạng, viêm động mạch chủ do giang mai, và viêm động mạch lan toả.

Tắc động mạch dưới cẳng chân và bàn chân, theo thứ tự tỷ lệ gặp của bệnh có thể bao gồm động mạch chày và động mạch mác chung, mạch bàn chân, và có khi những nhánh chẽ nhỏ. Triệu chứng phụ thuộc vào độ hẹp hoặc huyết khối, tắc đột ngột và độ rộng chỗ tắc, và tình trạng mạch gốc và bàng hệ. Bức tranh lâm sàng có thể khó ổn định, tiến triển chậm qua hàng tháng, hàng năm, có thể cuối cùng gây teo, đau do thiếu máu cục bộ và có hoại tử.

Triệu chứng và dấu hiệu

Toàn bộ các biểu hiện có thể có của bệnh mạch ở cẳng chân và bàn chân không thể mô tả ở đây, chỉ có thể trình bày những khía cạnh lâm sàng chủ yếu có giá trị ở những bệnh nhân này.

Khập khiễng cách hồi là triệu chứng biểu hiện nhiều nhất. Mỏi, đau nhức trong gắng sức thường xuất hiện đẩu tiên ở cơ bắp chân. Ít gặp hơn là đau ở bàn chân.

Khoảng cách bệnh nhân có thể đi bộ trước khi xuất hiện cơn đau chỉ ra mức độ thiệu hụt tuần hoàn: 2 chặng (360 - 460 mét) là nhẹ, 1 chặng là trung bình, nửa chặng hoặc ít hơn là nặng. Đau khi nghỉ ngơi có thể xuất hiện ban đêm và đau liên tục, âm ỉ. Như trong trường hợp tắc mạch khoeo và đùi, đau lúc nghỉ chỉ ra là bệnh nặng. Có thể làm giảm mức độ đau bằng cách để chân trần và đặt chân cao hơn mặt giường.

Khi khám, dù mạch khoeo có thể có, nhưng mạch mu chân hai bên thường mất. Gắng sức có thể làm mạch mu chân mất đi ở vài bệnh nhân. Màu đỏ trên da là nổi bật, ngoài ra còn thấy da lạnh, teo và rụng lông. Những dấu hiệu này không thể phân biệt được với tắc ở phần cao hơn của chân, Có mạch khoeo chứng tỏ rằng tắc ở đoạn xa hơn khi có những triệu chứng và dấu hiệu này.

Ghi hình ảnh

Phim của phần thấp cẳng chân và bàn chân có thể thấy calci hóa ở mạch. Nếu có một xoang có ống dẫn lưu hoặc một ổ loét kín ở xương hoặc khớp thì viêm tủy xương có thể thấy trên phim. Nếu sờ mạch khoeo rõ, chụp mạch ít có giá trị. Siêu âm Doppler đưa ra một đánh giá chính xác áp lực ở mạch mu chân.

Điều trị nội khoa

Aspirin liều thấp (80 - 325 mg một ngày) là thuốc chống ngưng kết tiểu cầu, nó có giá trị lý thuyết và không gây hại; nó cũng nên dùng cho tất cả những bệnh có tắc mạch ngoại vi nặng nề. Pentoxityllin (400mg, 3 lần/ngày), có thể có ích ở bệnh nhân có triệu chứng mạn tính.

Điều trị thiểu năng tuần hoàn ở bàn chân và ngón

Cắt thần kinh giao cảm đoạn thắt lưng có thể chỉ định khi có thiếu máu cục bộ hoặc tiền hoại thư ở đoạn tận bàn chân hoặc khi có những vết loét nhỏ ở bàn chân. Không có sự thay đổi tuần hoàn đến cơ và vì vậy không có khập khiễng. Bệnh nhân không thể phẫu thuật có thể cân nhắc đến thủ thuật cắt bỏ thần kinh giao cảm hóa học bằng phenol 6%. Các thuốc giãn mạch không có giá trị hoặc ít. Chăm sóc chung bàn chân là quan trọng.

Bài mới nhất

Các con đường thần kinh để sợi cảm giác đi tới vỏ não vận động

Các con đường thần kinh từ vỏ não vận động

Dẫn truyền các tín hiệu vận động từ vỏ não tới các cơ

Vùng chi phối vận động chuyên biệt trên vỏ não

Vùng vận động bổ xung: chức năng vận động của vỏ não và thân não

Vùng tiền vận động: chức năng vận động của vỏ não và thân não

Vùng vận động sơ cấp: chức năng vận động của vỏ não và thân não

Covid-19 thay đổi mạch máu phổi: kết quả từ chụp phim lồng ngực

Giống và khác nhau của Vắc xin DNA so với mRNA

Glumeron 30 MR: thuốc điều trị đái tháo đường tuýp II

GliritDHG: thuốc điều trị đái tháo đường tuýp 2

Lipvar 20: thuốc điều trị cholesterol máu cao

Phản xạ tự chủ của tủy sống: hệ thần kinh tự chủ được tích hợp trong tủy sống

Phản xạ tủy sống gây co cứng cơ

Động tác bước và đi bộ: phản xạ tư thế

Phản xạ tư thế: dáng đi ở tủy sống

Ức chế đối kháng: cung phản xạ đồi kháng

Phản xạ duỗi chéo: phối hợp vận động của các chi

Phản xạ gấp và phản xạ rút lui khỏi vật kích thích

Điều hòa vận động: vai trò của phản xạ gân

Điều hòa vận động: ứng dụng lâm sàng của phản xạ căng cơ

Điều hòa vận động: vai trò thoi cơ trong các vận động chủ động

Điều hòa vận động: vai trò của phản xạ căng cơ

Điều hòa vận động: vai trò của suốt cơ

Tủy sống: tổ chức hoạt động chức năng vận động