Bệnh do các amip gây bệnh không ký sinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 2016-5-21

Amip gây bệnh có khả năng xâm nhập hệ thần kinh trung ương qua tấm sàng. Thời kỳ ủ bệnh dao động từ 2 đến 7 ngày


Viêm màng não - não tiên phát do amip

Viêm màng não - não tiên phát do amip là một bệnh viêm màng não - não mủ tối cấp tương tự như viêm màng não do vi khuẩn và nhanh chóng dẫn tới tử vong. Phần lớn bệnh xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi. Căn nguyên gây bệnh thường gặp nhất là amip roi sống tự do Naegleria fowleri. Balamuthia mandrillaris, một loại amip sống tự do mới được phát hiện (trước kia được coi là một loài amip leptomyxid), cũng được công nhận là căn nguyên gây viêm màng não - não do amip ở cả người khỏe mạnh và người suy giảm miễn dịch. Các loài acanthamoeba gây viêm não u hạt đa ổ ở những người suy giảm miễn dịch, bao gồm cả những bệnh nhân AIDS. Balaihuthia mandrillaris mới đây được phân lập từ những bệnh nhân AIDS.

N. fowleri là loài vi sinh ưa nhiệt tìm thấy trong các hồ nước ngọt bị ô nhiêm và ấm, các nguồn nước sinh hoạt, các bể bơi, các nguồn nước nóng và cống rãnh. Phần lớn bệnh nhân có tiền sử phơi nhiễm với nước ngọt; bụi cũng có khả năng là nguồn bệnh. Xét nghiệm dịch mũi và dịch họng cho thấy có tình trạng mang amip ở người, và các thăm dò huyết thanh học gợi ý rằng có các trường hợp nhiễm bệnh không triệu chứng.

Amip gây bệnh có khả năng xâm nhập hệ thần kinh trung ương qua tấm sàng. Thời kỳ ủ bệnh dao động từ 2 đến 7 ngày. Các triệụ chứng ban đầu bao gồm đau đầu, sốt, tinh thần chậm chạp thường đi cùng với viêm mũi và viêm họng. Nôn, rối loạn tinh thần, và các dấu hiệu khác của viêm màng não - não xuất hiện trong vòng 1 hoặc 2 ngày, tiếp theo là hôn mê và sau đó là tử vong ở ngày thứ năm hoặc thứ sáu. Trên khám nghiệm tử thi, một số nạn nhân có viêm cơ tim không đặc hiệu.

Chọc dò tủy sống hoặc não thất cho thấy dịch não tủy chứa vài trăm tới 25.000 bạch cầu/µl (50 - 100% bạch cầu đa nhân) và hồng cầu (tới vài nghìn/µl). Protein thường tăng, và glucose bình thường hoặc giảm vừa. Nếu các xét nghiệm thông thường tìm vi khuẩn và nấm âm tính, dịch não tủy phải được xét nghiệm tìm amip sống tự do để chẩn đoán xác định. Xét nghiệm lam ướt bằng kính hiển vi quang học thông thường với góc mở giới hạn hoặc che màng tôi sẽ làm tăng độ tương phản và độ khúc xạ, giai đoạn ủ ấm không cần thiết. Không nên ly tâm hoặc giữ dịch não tủy trong tủ lạnh, do các amip vì thế sẽ bị bất động. Sự chuyển động nhanh rihẹn của amip giúp phân biệt chúng với các loại tế bào bạch cầu có hình dạng rất giống amip. Cần thực hiện các kỹ thuật nhuộm, nuôi cấy và tiêm truyền cho chuột. Các xét nghiệm huyết thanh học tìm kháng thể và kháng nguyên lưu hành đang được nghiên cứu.

Việc xác định loài chính xác được thực hiện trên cơ sở hình thái, xác định sự chuyển dạng các roi (chỉ thấy ở naegleria) và một số phương pháp miễn dịch khác.

Chỉ có bốn trường hợp khỏi bệnh chính xác được thông báo. Một bệnh nhân được điều trị bằng amphotericin B tĩnh mạch và nội tủy, và một trường hợp điều trị bằng amphotericin B phối hợp với miconazol và rifampin. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có tác dụng tăng cường đáng kể giữa amphotericin B và tetracyclin hoặc rifampin. Hiện không có điều trị gì cho bệnh do B. mandrillaris.

Bệnh do amip acanthamoeba

Các amip sống tự do (thuộc giống acanthamoeba có thể tìm thấy trong đất và nước ngọt, nước lợ và nước nóng ở dạng amip thực bào (15 - 35 µm) hoặc kén (10 - 25µm). Một số loài được xác định có khả năng gây bệnh ở người, là căn nguyên của một số hội chứng khó nhận định: (1) viêm não u hạt hoại tử ổ bán cấp và mạn tính gây tử vong sau vài tuần tới vài tháng, (2) tổn thương da giống nhiễm nấm sâu, (3) u hạt lan tỏa ở nhiều tổ chức, và (4) viêm tiền phòng hoặc viêm giác mạc mạn tính có thể dẫn tới mù lòa. Đường vào của amip có thể bao gồm da, mắt hoặc đường hô hấp. Tình trạng mang cộng sinh ở mũi đã được xác định. Các bệnh nhân suy giảm miễn dịch, bao gồm cả những người nhiễm HIV, có thể có tính cảm nhiễm cao.

Trong hội chứng viêm não, tăng bạch cầu lympho trong dịch não tủy đã được mô tả. Chẩn đoán trước tử vong được thực hiện qua các bệnh phẩm sinh thiết. Chẩn đoán đặc hiệu dựa trên khả năng bắt màu miễn dịch huỳnh quang của amip trong các bệnh phẩm từ các tổ chức. Không có điều trị nào có hiệu quả, nhưng ketoconazol, miconazol, các sulfonamid, clotrimazol, pentamidin, paromomycin, neomycin, amphotericin B, hoặc flucytosin có thể được thử nghiệm.

Hàng trăm ca viêm giác mạc do acanthamoeba đã được thông báo, phần lớn liên quan tới mang kính áp tròng, một vài ca do chấn thương xuyên giác mạc hoặc phơi nhiễm với nước bẩn. Phương pháp soi đồng tiêu điểm có độ hiển thị cao được phát hiện gần dây cho phép xác định nhanh và dễ dàng với độ nhạy cao kén và các amip thực bào. Các biểu hiện lâm sàng gợi ý viêm giác mạc do acanthamoeba là (1) đau nhức mắt nặng, (2) khám mắt có xâm nhiễm dạng vòng rìa giác mạc từng phần hoặc toàn phần, (3) tổn thương biểu mô giác mạc tái phát, và (4) tổn thương giác mạc không đáp ứng với các điều trị thông thường. Thường loại viêm giác mạc này tiến triển chậm, qua nhiều tháng. Chẩn đoán có thể được khẳng định qua việc nạo giác mạc nhiều lần bằng tăm bông hoặc cấy nạo có đầu platin. Dịch nạo giác mạc sau đó được nhuộm Giemsa hoặc trichrom hoặc bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang rồi soi và được nuôi cấy trên mạch không chứa chất dinh dưỡng có Escherichia coli.

Điều trị viêm giác mạc do acanthamoeba đã có nhiều tiến bộ, phần lớn số bệnh nhân có thể phục hồi thị lực tốt và khỏi hoàn toàn nếu được điều trị sớm. Điều trị digluconat chlorhexidin 0,02% tại chỗ cùng với propamidin có hiệu quả cao hơn biguanid polyhexamethylen cộng với propamidin. Có thể bổ sung itraconazol đường uống đối với viêm giác mạc sâu. Sử dụng corticosteroid còn gây tranh cãi. Mặc dù được điều trị thuốc, nhiều khi cần nạo vét giác mạc để loại bỏ tổ chức đã nhiễm bệnh, ghép giác mạt có thể được sử dụng cho những mắt không viêm.

Để phòng bệnh, cần ngâm kính áp tròng vào các loại dung dịch tẩy trùng trong ít nhất 6 giờ.


Bài mới nhất

Bệnh ấu trùng di trú nội tạng (bệnh giun toxocara)

Phương pháp phòng bệnh ở người tốt nhất là điều trị định kỳ chó con, mèo con, chó và mèo mẹ đang trong thời kỳ cho con bú, bắt đầu từ 2 tuần sau khi đẻ

Bệnh giun tóc (bệnh giun roi ngựa)

Bệnh nhân nhiễm giun nhẹ không triệu chứng không cần phải điều trị. Trường hợp nhiễm giun nặng hơn hoặc có triệu chứng, điều trị mebendazol, albendazol hoặc oxantel.

Bệnh giun xoắn (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh ở người xuất hiện lẻ tẻ hoặc thành các vụ dịch nhỏ. Nhiễm bệnh thường xảy ra khi ăn phải các ấu trùng sống đóng kén trong thịt lợn hoặc các sản phẩm từ thịt lợn còn sống hoặc chưa được nấu chín.

Bệnh giun lươn (chẩn đoán và điều trị)

Tình trạng tự nhiễm ở người, một hiện tượng có lẽ xuất hiện với tỷ lệ thấp ở phần lớn các bệnh nhân là một yếu tố quan trọng xác định số lượng giun và là nguyên nhân duy trì sự tồn tại của bệnh.

Bệnh giun chỉ Onchocera (chẩn đoán và điều trị)

Ngứa da có thể nặng, dẫn đến xước da và liken hóa; các biểu hiện khác bao gồm biến đổi sắc tố, nổi các nốt sẩn, có vẩy, teo da, sự hình thành các túi da, và viêm nhiễm cấp tính

Bài xem nhiều nhất

Bệnh giun lươn (chẩn đoán và điều trị)

Tình trạng tự nhiễm ở người, một hiện tượng có lẽ xuất hiện với tỷ lệ thấp ở phần lớn các bệnh nhân là một yếu tố quan trọng xác định số lượng giun và là nguyên nhân duy trì sự tồn tại của bệnh.

Bệnh giun móc (chẩn đoán và điều trị)

Nhiễm giun móc, phân bố rộng rãi ở các vùng ẩm ướt nhiệt đới và cận nhiệt đới và gặp lẻ tẻ ở Đông Nam Hoa Kỳ, là do Ancylostoma duodenale và Necator americanus gây nên.

Bệnh giun đũa (chẩn đoán và điều trị)

Do có sự di trú và khả năng kích thích dị ứng, các ấu trùng trong phổi gây tổn thưong mao mạch và phế nang, dẫn đến các biểu hiện sốt nhẹ, ho khan, đờm lẫn máu, thở khò khè, khó thở, và đau sau xưong ức.

Bệnh do ấu trùng sán lợn (cysticercus, chẩn đoán và điều trị)

Chẩn đoán phân biệt bao gồm u lao, u, bệnh nang nước, viêm mạch, các bệnh nhiễm nấm mạn tính, bệnh do toxoplasma, và các bệnh nhiễm ký sinh trùng khác, và giang mai thần kinh.

Bệnh giun kim (chẩn đoán và điều trị)

Giun trưởng thành cư trú ở manh tràng và các vùng ruột lân cận, nằm bám lỏng lẻo vào niêm mạc. Các giun cái trưởng thành chui qua hậu môn tới vùng da quanh hậu môn và đẻ trứng với số lượng lớn.

Nhiễm sán dây (chẩn đoán và điều trị)

Hiện chưa có các xét nghiệm huyết thanh học cho các bệnh nhiễm sán dây, xét nghiệm ELISA phát hiện các kháng nguyên trong phân hiện đang được nghiên cứu.

Bệnh giun chỉ (chẩn đoán và điều trị)

Diethylcarbamazin, thuốc điều trị lựa chọn cho bệnh giun chỉ, tiêu diệt nhanh ấu trùng trong máu, nhưng có tác dụng diệt rất chậm hoặc chỉ gây tổn thương cho giun trưởng thành.

Bệnh ấu trùng di trú ở da (chẩn đoán và điều trị)

Chẩn đoán dựa trên hình dạng đặc trưng của các tổn thương và biểu hiện tăng bạch cầu ái toan thường đi kèm theo. Sinh thiết thường không được chỉ định.

Bệnh sán máng (nhiễm Schistosoma, chẩn đoán và điều trị)

Tiên lượng rất tốt khi bệnh được điều trị ở giai đoạn sơm và nhẹ. Các tổn thương loét, u hạt và polyp ở ruột và bàng quang có thể co nhỏ hoặc biến mất, cũng như các tổn thương xơ hóa ở gan trên siêu âm.

Bệnh giun tóc (bệnh giun roi ngựa)

Bệnh nhân nhiễm giun nhẹ không triệu chứng không cần phải điều trị. Trường hợp nhiễm giun nặng hơn hoặc có triệu chứng, điều trị mebendazol, albendazol hoặc oxantel.