Bệnh do Balantidium: balantidiasis, chẩn đoán và điều trị

2016-05-23 02:14 PM
Chẩn đoán dựa trên việc xác định các thể thực bào trong phân lỏng, các kén trong phân khuôn, hoặc các thể thực bào trong dịch nạo từ các vết loét hoặc tổ chức sinh thiết vết loét từ đại tràng.

Balantidium coli là một loại ký sinh đơn bào đường ruột kích thước lớn có lông mao, phân bố toàn cầu, nhưng đặc biệt là ở vùng nhiệt đới. Bệnh lây truyền do ăn phải kén thải theo phân của người hoặc lợn, là các vật chủ mang bệnh. Trong vật chủ mới, thành kén tan biến và thể thực bào có thể xâm nhập niêm mạc và lớp dưới niêm mạc đoạn cuối hồi tràng và đại tràng, gây các ổ áp xe và các vết loét tròn không đều. Nhiều trường hợp nhiễm bệnh không có triệu chứng và có lẽ không cần phải điều trị. Ỉa chảy mạn tính tái phát, xen kẽ với táo bón, là gặp nhiều nhất, nhưng biểu hiện lỵ nặng với phân có nhầy máu, mót rặn và đau quặn có thể xuất hiện từng đợt. Loại vi sinh gây bệnh này không lan truyền theo đường máu tới các cơ quan khác.

Chẩn đoán dựa trên việc xác định các thể thực bào trong phân lỏng, các kén trong phân khuôn, hoặc các thể thực bào trong dịch nạo từ các vết loét hoặc tổ chức sinh thiết vết loét từ đại tràng. Các bệnh phẩm phải được xét nghiệm nhanh chóng hoặc giữ trong chất bảo quản.

Điều trị lựa chọn là tetracyclin hydrochlorid 500 mg bốn lần /ngày, trong 10 ngày. Điều trị thay thế là iodoquinol (diiodohydrqxyquin), 650 mg ba lần/ngàỵ, trong 21 ngày. Điều trị bằng metronidazol (750 mg ba lần/ngày, trong 5 ngày) hoặc paromomycin (25 - 30 mg/kg (gốc) chia ba lần/ngày, trong 5 - 10 ngày) đôi khi cũng được thông báo là có kết quả.

Các trường hợp bệnh với triệu chứng nhẹ đến vửa được điều trị thích hợp có tiên lượng tốt, nhưng dù đã được điều trị, các trường hợp bệnh nặng có thể dẫn tới tử vong do thủng ruột hoặc xuất huyết.

Bài xem nhiều nhất

  • Bệnh giun lươn: chẩn đoán và điều trị

  • Tình trạng tự nhiễm ở người, một hiện tượng có lẽ xuất hiện với tỷ lệ thấp ở phần lớn các bệnh nhân, là một yếu tố quan trọng xác định số lượng giun.

  • Bệnh giun móc: chẩn đoán và điều trị

  • Nhiễm giun móc, phân bố rộng rãi ở các vùng ẩm ướt nhiệt đới và cận nhiệt đới và gặp lẻ tẻ ở Đông Nam Hoa Kỳ, là do Ancylostoma duodenale và Necator americanus gây nên.

  • Bệnh giun đũa: chẩn đoán và điều trị

  • Do có sự di trú và khả năng kích thích dị ứng, các ấu trùng trong phổi gây tổn thưong mao mạch và phế nang, dẫn đến các biểu hiện sốt nhẹ, ho khan, đờm lẫn máu, thở khò khè, khó thở, và đau sau xưong ức.

  • Bệnh giun kim: chẩn đoán và điều trị

  • Giun trưởng thành cư trú ở manh tràng và các vùng ruột lân cận, nằm bám lỏng lẻo vào niêm mạc. Các giun cái trưởng thành chui qua hậu môn tới vùng da quanh hậu môn và đẻ trứng với số lượng lớn.

  • Bệnh do ấu trùng sán lợn: cysticercus, chẩn đoán và điều trị

  • Chẩn đoán phân biệt bao gồm u lao, u, bệnh nang nước, viêm mạch, các bệnh nhiễm nấm mạn tính, bệnh do toxoplasma, và các bệnh nhiễm ký sinh trùng khác, và giang mai thần kinh.

  • Bệnh do Toxoplasma: chẩn đoán và điều trị

  • Phần lớn nhiễm toxoplasma diễn ra, dưới dạng bệnh sốt cấp tính đa cơ quan, không nặng, giống như bệnh tăng bạch cầu đa nhân nhiễm trùng

  • Bệnh ấu trùng di trú nội tạng: bệnh giun toxocara

  • Phương pháp phòng bệnh ở người tốt nhất là điều trị định kỳ chó con, mèo con, chó và mèo mẹ đang trong thời kỳ cho con bú, bắt đầu từ 2 tuần sau khi đẻ

  • Bệnh giun chỉ: chẩn đoán và điều trị

  • Diethylcarbamazin, thuốc điều trị lựa chọn cho bệnh giun chỉ, tiêu diệt nhanh ấu trùng trong máu, nhưng có tác dụng diệt rất chậm hoặc chỉ gây tổn thương cho giun trưởng thành.

  • Bệnh do amip: chẩn đoán và điều trị

  • Trước kia được coi là một loại ký sinh trùng có khả năng gây bệnh khác nhau, quan điểm chung hiện nay là có hai loài khác biệt dù cấu trúc giống nhau

  • Bệnh sán máng: nhiễm Schistosoma, chẩn đoán và điều trị

  • Tiên lượng rất tốt khi bệnh được điều trị ở giai đoạn sơm và nhẹ. Các tổn thương loét, u hạt và polyp ở ruột và bàng quang có thể co nhỏ hoặc biến mất, cũng như các tổn thương xơ hóa ở gan trên siêu âm.