Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng: chẩn đoán và điều trị

Ngày: 2016-10-2

By member of dieutri.vn

Làm sạch các thâm nhiễm phổi ở bệnh nhân viêm phổi mắc phải ở cộng đồng phải mất 6 tuần hay lâu hơn: ở người trẻ thời gian này nhanh hơn hoặc đó là người không hút thuốc hay chỉ tổn thương một thùy.

Hội lồng ngực Hòa Kỳ (1993), đề nghị đường lối điều trị đầu tiên cho người lớn viêm phổi mắc phải ở cộng đồng, theo các nhóm phần chia về tuổi tác, bệnh tật, độ nặng củạ bệnh như sau:

Bệnh nhân ngoại trú không có bệnh tật, tuổi dưới 60

Yếu tố gây bệnh thường gặp nhất là S. Pneumoniae, Mycoplasma Pneumoniae, các virus đường hô hấp, Chlamydía pneumonieae, Hemophilus influenzae và các loại khác (legionella, tụ cầu vàng, trực khuân lao, nấm trong bệnh dịch địa phương và trực khuẩn gram âm ái khí). Kháng sinh được đề xuất để điều trị là macrolid hay tetracyclin. Erythromycin (250 - 500mg uống ngày 4 lần) là thuốc điều trị chọn lựa trong hầu hết các trường hợp. Thuốc này không đắt nhưng thường dạ dày ruột không dung nạp. Thời gian điều trị chừng 10 - 14 ngày. Chứng cứ tại sao điều trị như thế chưa đầy đủ thời gian yêu cầu cho việc điều trị bệnh viêm phổi do vi khuẩn là 14 ngày (21 ngày nếu bệnh nhân có tổn thương miễn dịch). Nếu bệnh nhân không dung nạp erythromycin hay nếu nghi nhiễm khuẩn do H. influenzae (ví dụ ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ như COPD) nên cho một loại macrolid mới hơn và đắt hơn là clarithromycin hay azithromycin. Có thể thay thế tetracyclin (liều như với erythromycin) cho bệnh nhân dị ứng với macrolid. Tetracyclin và clarithromycin không nên dùng cho phụ nữ mang thai.

Bệnh nhân ngoại trú có bệnh tật hoặc tuổi trên 60

Hầu hết yếu tố gây bệnh thường gặp là S. pneumoneae, các virus đường hô hấp, H. influenzae, trực khuẩn gram âm ái khí, tụ cầu vàng và loại khác (legionella, Moraxella. catarrhalis, trực khuẩn lao, nấm trong địa phương).

Nên cho thuốc loại cephalosporin thế hệ hai hay trimethoprim - sulfamethoxazol hay một beta - lactam phối hợp với thuốc ức chế beta – lactamase như amoxicillin potassium clavulanat. Nếu nghi có viêm phổi do vi khuẩn legionella nên cho macrolid.

Các bệnh nhân nằm viện

Yếu tố gây bệnh thường gặp nhất là S. pneumoniae, H. influenzae, trực khuẩn gram âm ái khí, Legionella, tụ cầu vang, C. pneumoniae, các virus đường hô hấp, các loại khác (M. pneumoniae, M.catarrhalis, trực khuẩn lao, nấm trong địa phương). Nên cho cephalosporin thế hệ 2 hay thế hệ 3 hay một beta - lactam phối hợp với thụốc ức chế beta - lactamase như amoxicillin potassium clavulanat. Nếu nghi có viêm phổi do vi khuẩn legionella nên cho macrolid.

Bệnh nhân nằm viện, bệnh nặng

Yếu tố gây bệnh thường gặp nhất là S. pneumoniae, legionella, trực khuần gram âm ái khí, M. pneumoniaè, các virus đường hô hấp, các loại khác (H. influenzae, trực khuẩn lao và nấm trong địa phương). Nên điều trị phối hợp một macrolid với hoặc cephalosporin thế hệ ba có tác dụng chống Pseudomonas hay loại chống Pseudomonas khác.

Có cần thiết cho viêm phổi mắc phải ở cộng đồng nằm viện không thì tùy theo sự cân nhắc của thầy thuốc. Nhiều bệnh nhân có thể điều trị rất kết qủa ở ngoại trú. Chỉ định cần nằm viện gồm người trên 65 tuổi có nhiều bệnh (như nghiện rượu, đái tháo đường, COPD), chức năng sống suy giảm, giảm bạch cầu hay tăng bạch cầu, suy hô hấp, có biểu hiện nhiễm khuẩn, thiếu sự chăm sóc giúp đỡ thêm ở nhà.

Làm sạch các thâm nhiễm phổi ở bệnh nhân viêm phổi mắc phải ở cộng đồng phải mất 6 tuần hay lâu hơn: ở người trẻ thời gian này nhanh hơn hoặc đó là người không hút thuốc hay chỉ tổn thương một thùy. Điều trị kháng sinh mà các thâm nhiễm phổi vẫn tăng tiến trên phim X quang là dấu hiệu tiên lượng rất kém.

Phòng bệnh

Vaccin phế cầu đa giá (chứa các kháng nguyên polysaccharide vỏ của 23 chủng S. pneumoniae) có hiệu lực phòng hay làm nhẹ bớt 85 - 90% các nhiễm khuẩn phế cầu ở bệnh nhân còn khả năng miễn dịch. Chỉ định tiêm chủng vaccin phế cầu: là bất kể bệnh tim phổi mạn tính nào. Những người có nguy cơ cao hàng năm cần tiêm chủng vaccin chống cúm.