Các khối u trung thất: chẩn đoán và điều trị

2016-10-14 02:07 PM
CT giúp ích cho xử trí, nếu nghi đến thực quản thì chụp X quang thực quản với baryt. Siêu âm Doppler hoặc chụp tĩnh mạch cánh tay đầu, tĩnh mạch chủ trên, chụp động mạch.

Các rối loạn tim mạch, chấn thương, nhiễm khuẩn, ung thư phát triển khác nhau có thể tạo nên các khối u xuất hiện trong trung thất khi chụp X quang lồng ngực. Một phân chia đã được thỏa thuận hữu dụng chia trung thất làm 3 khoang: trước, giữa và sau và xếp loại các khối u trung thất theo phân chia đó, Các u trung thất phải ở trong một hay nhiều khoang này, hầu hết ở khoang trước và khoang giữa; Các u trung thất trước có u tuyến ức, u quái, các tổn thương giáp trạng, u bạch huyết và u trung mô (u mỡ, u xơ). Các u trung thất giữa có u hạch bạch huyết, sự giãn rộng của động mạch phổi, phình động mạch chủ hay động mạch không tên, nang (phế quản, ruột non, màng phổi, màng ngoài tim), tĩnh mạch azygos hay bán azygos dãn rộng, lỗ thọát vị Morgagni. Các khối u trung thất sau có thoát vị khe, u thần kinh, thoát vị màng não, u thực quản, lỗ thoát vị Bochdalek, bệnh gai đốt sống ngực, tạo huyết ngoài tủy. Nhóm u thần kinh có u bao Schwann, u xơ thần kinh, sarcoma thần kinh, u thần kinh hạch - thần kinh đệm, u tế bào ưa chrom và các u khác.

Các triệu chứng và dấu hiệu của các u trung thất thì không đặc hiệu và thường do ảnh hưởng của khối u lên các cấu trúc chung quanh. Khởi phát đau lồng ngực sau xương ức âm ỉ, khó nuốt hay khó thở thường là dấu tích quan trọng biểu thị có u trung thất trong khoảng một nửa các trường hợp, triệu chứng không có, khối u chỉ phát hiện do chụp X quang lồng ngực thường lệ. Các phát hiện lâm sàng thay đổi tùy bản chất và vị trí khối u.

CT giúp ích cho xử trí, nếu nghi đến thực quản thì chụp X quang thực quản với baryt. Siêu âm Doppler hoặc chụp tĩnh mạch cánh tay đầu, tĩnh mạch chủ trên, chụp động mạch. MRI giúp phân biệt khối u với mạch máu, giúp phác họa các cấu trúc của rốn phổi. MRI cũng cho chẩn đoán hình ảnh trong nhiều mặt phẳng, còn CT chỉ cho chẩn đoán hình ảnh theo trục. Nếu nghi u ác tính thì cần có chẩn đoán mô học. Điều trị và tiên lượng tùy nguyên nhân của u trung thất.

Bài xem nhiều nhất

Hội chứng tăng thông khí: chẩn đoán và điều trị

Tăng thông khí là sự tâng thông khi phế nang gây ra nhược thán. Nó có thể do nhiều nguyên nhân như thiếu oxy máu, các bệnh phổi thâm nhiễm và tắc nghẽn, nhiễm khuẩn, rối loạn chức náng gan, sốt và đau.

Ung thư biểu mô nguồn gốc phế quản: carcinoma

Ung thư tế bào có vảy của phổi, có khuynh hướng xuất phát trong phế quản trung tâm, mọc trong lòng phế quản, do đó dễ làm xét nghiệm tế bào ở đờm hơn.

Nốt phổi đơn độc: chẩn đoán và điều trị

Các thử nghiệm da và huyết thanh chẩn đoán tìm nấm không giúp gì cho chẩn đoán. Xét nghiệm đờm tìm tế bào phải làm để đánh giá nốt phổi lớn khu trú ở trung tâm.

Các thâm nhiễm phổi ở người suy giảm miễn dịch

Để chẩn đoán, nên cấy máu, xét nghiệm và cấy đờm, dịch màng phổi nếu có, xét nghiệm đờm khạc ra tìm vi khuẩn, nấm, trực khuẩn lao, Legionella và P. carinii lá quan trọng.

Bệnh xơ nang: chẩn đoán và điều trị

Các biểu hiện của phổi xảy ra ở mọi bệnh nhân thoát qua được tuổi niên thiếu gồm có viêm phế quản cấp và mạn, giãn phế quản, viêm phổi, xẹp phổi, tổn thương nhu mô và vùng quánh phế quản.

Tăng áp lực động mạch phổi: chẩn đoán và điều trị

Tăng áp lực động mạch phổi thứ phát thì khó nhận biết về mặt lâm sàng trong các giai đoạn sớm, khi các triệu chứng và các dấu hiệu của bệnh gây ra nó còn sơ khởi.

Bệnh Sarcoid: chẩn đoán và điều trị

Những vị trí có thể làm sinh thiết được như các hạch bạch huyết sờ thấy được, các tổn thương ở da hay ở tuyến nước bọt chỉ định cho làm sinh thiết sẽ giúp thêm bằng chứng cho chẩn đoán.

Tràn dịch màng phổi: chẩn đoán và điều trị

Có 5 loại tràn dịch màng phổi chủ yếu là tràn dịch màng phổi dịch thấm, dịch rỉ, mủ màng phổi, chảy máu hay tràn máu lồng ngực và dưỡng chấp hay tràn dịch dưỡng chấp.

Ung thư phổi thứ phát: chẩn đoán và điều trị

Carcìnoma mạch bạch huyết biểu thị sự lan rộng của ung thư phổi thứ phát vào lưới bạch huyết phổi, có lẽ do sự lan rộng của khối u từ mạch máu vào mạch bạch huyết.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD: chẩn đoán và điều trị

Viêm phế quản mạn tính có đặc điểm là tăng tiết niêm dịch phế quản biểu thị bằng ho có đờm từ 3 tháng trở lên trong ít nhất 2 năm liền mà không phải do bất kỳ bệnh nào khác gây nên.