Viêm phổi kỵ khí và áp xe phổi (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 4 - 10 - 2016

Nhiễm khuẩn kỵ khí các loại khác nhau có biểu hiện trên phim X quang khác nhau có thể phân biệt được. Áp xe phổi có biểu hiện trên phim X quang là một hang đơn độc thành dầy bao quanh có vùng đông đặc.


Những điểm thiết yếu để chẩn đoán

Ảnh hưởng do sặc hít.

Vệ sinh răng miệng kém.

Sốt, sút cân, khó chịu.

Đờm hôi thối (gần một nửa bệnh nhân).

Thâm nhiễm một vùng phổi, một hay nhiều nơi có hang hay có tràn dịch màng phổi.

Các nhận xét chung

Hít phải một ít các chất xuất tiết ở mồm họng trong khi ngủ có thể gây bệnh biến chứng do hít phải các chất là hen về đêm, giãn phế quản, viêm phổi do hóa chất, tắc cơ giới đường hô hấp và nhiễm khuẩn phổi - màng phổi. Người dễ bị mắc bệnh do nguyên nhân trên là những người tri giác suy giảm do dùng thuốc, rượu, thuốc giảm đau gây mê, có bệnh của hệ thần kinh trung ương, khả năng nuốt giảm do bệnh của thực quản hay do rối loạn thần kinh, người có đặt ống nội khí quản, các ống đặt vào dạ dày qua mũi làm hư hại cơ chế bảo vệ cơ giới đường hô hấp.

Bệnh viêm quanh răng làm tăng các khuẩn kỵ khí trong chất hít phải kết hợp với mỗi lượng lớn hơn các vi khuẩn tương tự nhiễm khuẩn phổi - màng phổi kỵ khí. Hít phải các chất ở mồm họng đầu tiên dẫn đến viêm phổi trong các vùng phổi như các thùy phía sau của các thùy trên và các thùy trên đáy của các thùy dưới. Tư thế người bệnh khi hít phải các chất quyết định vùng nào của phổi bị ảnh hưởng, các triệu chứng lúc đầu âm thầm. Dàn dà người bệnh đi khám khi đó có thể viêm phổi hoậi tử, áp xe phổi, mủ.

Khoảng 2/3 bệnh nhân viêm phổi hoại tử, áp xe phổi bị nhiễm khuẩn chỉ với vi khuẩn kỵ khí nhiều chủng. Hầu hết số bệnh nhân còn lại bị nhiễm với cả hai loại ái khí và kỵ khí. Vi khuẩn kỵ khí phân lập được hay gặp nhất là bacteroides melaninogenicus, liên cầu kỵ khí và Fusobacterium nucleatum.

Các triệu chứng và dấu hiệu

Bệnh nhân nhiễm khuẩn phổi - màng phổi thường có triệu chứng như sốt, sụt cân, khó chịu. Ho có đờm mủ hôi thối gợi đến nhiễm khuẩn kỵ khí, còn nếu ho không có đờm cũng không loại trừ được nhiễm khụạn loại này.

Các xét nghiệm cận lâm sàng

Đờm khạc ra không phù hợp để nuôi cấy vi khuẩn kỵ khí. Vì có các chủng ở miệng lây nhiễm trong đờm. Chất nuôi cấy phải lấy xuyên qua khí quản hoặc khi soi phế quản với bàn chải được bảo vệ tránh nhiễm khuẩn. Hút qua lồng ngực hay xuyên qua khí quản ít khi có chỉ định vì các nhiễm khuẩn phổi - màng phổi kỵ khí đáp ứng tốt với penicillin hay clindamycin.

Chẩn đoán hình ảnh

Nhiễm khuẩn kỵ khí các loại khác nhau có biểu hiện trên phim X quang khác nhau có thể phân biệt được. Áp xe phổi có biểu hiện trên phim X quang là một hang đơn độc thành dầy bao quanh có vùng đông đặc. Thường hang có mức khí - dịch. Các bệnh có thể tạo hang khác là lao, nấm phổi, ung thư, nhồi máu phổi, u hạt Wegener. Viêm phổi hoại tử được phân biệt bởi có hang ở nhiều nơi trong các vùng phổi đông đặc. Viêm màng phổi mủ đặc trưng bởi có dịch màng phổi (chọc lồng ngực có mủ). Siêu âm có giá trị chỉ rõ nơi có dịch và cũng có thể phát hiện các ngăn màng phổi.

Điều trị

Penicillin G (1- 2 triệu đơn vị tiêm tĩnh mạch 4 giờ một lần) là điều trị thông thường nhiễm khuẩn phổi - màng phổi kỵ khí. Penicillin V (0,6 - 1g cứ 6 giờ uống một lần) có thể dùng sau khi tình trạng đã được cải thiện do dùng penicillin G tiêm tĩnh mạch. Clindamycin (600 mg tĩnh mạch 8 giờ một lần tới khi tình hình được cải thiện sau đó uống 300mg 6 giờ một lần) nhiều người dùng thay cho penicillin khi điều trị nhiễm khuẩn phổi - màng phổi kỵ khí. Co hai nghiên cứu cho thấy nó hiệu qủa hơn penicillin khi điều trị cho nhiễm khuẩn phổi kỵ khí mắc phải ở cộng đồng. Điều trị bằng kháng sinh nên tiếp tục cho tới khi có ổn định thể hiện trên phim X quang phổi, một qúa trình đòi hỏi phải một tháng hay hơn. Điều trị bệnh phổi - màng phổi kỵ khí đòi hỏi phải dẫn lưu đầy đủ. Điều trị viêm màng phổi mủ cần đặt ống mở lồng ngực nhưng dẫn lưu màng phổi mở đôi khi cũng cần vì khuynh hướng của loại nhiễm khuẩn này là tạo nên các ngăn trong khoang màng phổi.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD (chẩn đoán và điều trị)

Viêm phế quản mạn tính có đặc điểm là tăng tiết niêm dịch phế quản biểu thị bằng ho có đờm từ 3 tháng trở lên trong ít nhất 2 năm liền mà không phải do bất kỳ bệnh nào khác gây nên.

Hen phế quản (chẩn đoán và điều trị)

Sinh bệnh học của hen còn biết rất ít. Ngày nay hen đầu tiên được nhìn nhận như một bệnh viêm bán cấp đường thở. Vai trò của các cơ chế dị ứng trong số lớn bệnh nhân bị hen được chú ý nhiều.

Viêm phổi (chẩn đoán và điều trị)

Chụp X quang phổi nằm trong các xét nghiệm đầu tiên cần làm đối với bệnh nhân có các triệu chứng và dấu hiệu nghi có viêm phổi. Hình thâm nhiễm không đặc trưng cho nguyên nhân phổi.

Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh phổi (chẩn đoán bệnh hô hấp)

Thở rít khi hít vào và thở rít khi thở ra cùng với nhau gợi cho thấy có tắc nghẽn cố định ở nơi nào đó trong đường thở phía trên. Ngáy là tiếng thở vào do rung động thanh hầu khi ngủ.

Hội chứng tăng thông khí (chẩn đoán và điều trị)

Tăng thông khí là sự tâng thông khi phế nang gây ra nhược thán. Nó có thể do nhiều nguyên nhân như thiếu oxy máu, các bệnh phổi thâm nhiễm và tắc nghẽn, nhiễm khuẩn, rối loạn chức náng gan, sốt và đau.

Các thâm nhiễm phổi ở người suy giảm miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Để chẩn đoán, nên cấy máu, xét nghiệm và cấy đờm, dịch màng phổi nếu có, xét nghiệm đờm khạc ra tìm vi khuẩn, nấm, trực khuẩn lao, Legionella và P. carinii lá quan trọng.

Bệnh xơ nang (chẩn đoán và điều trị)

Các biểu hiện của phổi xảy ra ở mọi bệnh nhân thoát qua được tuổi niên thiếu gồm có viêm phế quản cấp và mạn, giãn phế quản, viêm phổi, xẹp phổi, tổn thương nhu mô và vùng quánh phế quản.

Các test chẩn đoán bệnh phổi (test chức năng, test luyện tập và soi phế quản)

Đo phế dung và đo các thể tích phổi cho phép xác định có rối loạn chức năng phổi hạn chế hay tắc nghẽn không. Rối loạn chức năng phổi tắc nghẽn được xác định khi các tỷ lệ dòng khí giảm.

Tắc đường hô hấp (chẩn đoán và điều trị)

Tắc mạn tính đường hô hấp trên có thể do carcinom hầu họng hay thanh quản, chít hẹp thanh quản hay dưới nắp thanh quản, u hạt thanh quản hay dây thanh hoặc liệt dây thanh âm hai bên.

Viêm khí phế quản cấp (chẩn đoán và điều trị)

Các dấu hiệu thực thể rất ít hay không có. Sau khi ho ra nhiều đờm, nghe phổi có thể mất tiếng ran ngáy nhưng khò khè vẫn còn. Các dấu hiệu đông đặc phổi không có.

Bệnh nấm aspergillus phổi phế quản dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Tiêu chuẩn chẩn đoán thứ đến là phân lập được aspergillus trong đờm, tiền sử có đờm lốm đốm máu, phản ứng bì muộn với kháng nguyên aspergillus.

Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện (chẩn đoán và điều trị)

Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện được định nghĩa là viêm phổi xảy ra từ trên 48 giờ sau khi vào viện, là một trong những nguyên nhân chủ yếu của bệnh tật và tử vong của bệnh nhân nằm viện.

Nốt phổi đơn độc (chẩn đoán và điều trị)

Các thử nghiệm da và huyết thanh chẩn đoán tìm nấm không giúp gì cho chẩn đoán. Xét nghiệm đờm tìm tế bào phải làm để đánh giá nốt phổi lớn khu trú ở trung tâm.

Giãn phế quản (chẩn đoán và điều trị)

Giãn phế quản là rối loạn bẩm sinh hay mắc phải của phế quản lớn đặc trưng bởi có giãn và hủy hoại bất thường, hằng định thành phế quản. Bệnh có thể do viêm hay nhiễm khuẩn đường hô hấp tái đi tái lại.

Tràn dịch màng phổi (chẩn đoán và điều trị)

Có 5 loại tràn dịch màng phổi chủ yếu là tràn dịch màng phổi dịch thấm, dịch rỉ, mủ màng phổi, chảy máu hay tràn máu lồng ngực và dưỡng chấp hay tràn dịch dưỡng chấp.

Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng (chẩn đoán và điều trị)

Làm sạch các thâm nhiễm phổi ở bệnh nhân viêm phổi mắc phải ở cộng đồng phải mất 6 tuần hay lâu hơn: ở người trẻ thời gian này nhanh hơn hoặc đó là người không hút thuốc hay chỉ tổn thương một thùy.

Lao phổi (chẩn đoán và điều trị)

Các chủng trực khuẩn lao kháng với một hay nhiều thuốc chống lao chủ yếu gặp thấy với tần số tăng đến mức báo động, đặc biệt ở cư dân các đô thị.

Viêm tắc tiểu phế quản (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tắc tiểu phế quản có thể kết hợp với viêm khớp dạng thấp, viêm đa cơ và viêm da cơ. Liệu pháp penicillin có thể là nguyên nhân gây viêm tắc tiểu phế quản ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.

Tăng áp lực động mạch phổi (chẩn đoán và điều trị)

Tăng áp lực động mạch phổi thứ phát thì khó nhận biết về mặt lâm sàng trong các giai đoạn sớm, khi các triệu chứng và các dấu hiệu của bệnh gây ra nó còn sơ khởi.

Các bệnh phổi nghề nghiệp (chẩn đoán và điều trị)

Các bệnh phổi nghề nghiệp có biểu hiện rối loạn đường hô hấp tắc nghẽn gồm có hen nghề nghiệp, viêm phế quản công nghiệp và bệnh bụi bông.

Viêm phổi kỵ khí và áp xe phổi (chẩn đoán và điều trị)

Nhiễm khuẩn kỵ khí các loại khác nhau có biểu hiện trên phim X quang khác nhau có thể phân biệt được. Áp xe phổi có biểu hiện trên phim X quang là một hang đơn độc thành dầy bao quanh có vùng đông đặc.

Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan (chẩn đoán và điều trị)

Một dạng cấp, nặng của viêm phổi tăng bạch cầu ái toan gần đây được mô tả, đặc trưng bởi sốt, suy hô hấp, dịch rửa phế quản phế nang có tỷ lệ bạch cầu ái toan cao, điều trị bằng erythromycin và corticosteroid có đáp ứng nhanh và không tái đi tái lại.

Tràn khí màng phổi tự phát (chẩn đoán và điều trị)

Tràn khí màng phổi thứ phát xảy ra như một biến chứng của COPD, hen, xơ nang, lao và cac bệnh phổi thâm nhiễm các loại gồm cả viêm phổi pneumocystis.

Suy hô hấp cấp (chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng và dấu hiệu của suy hô hấp cấp vừa không nhậy cảm vừa không đặc hiệu do đó người thầy thuốc phải nghĩ tới và yêu cầu làm xét nghiệm đo khí máu động mạch nếu nghi có suy hô hấp.

Ung thư biểu mô nguồn gốc phế quản (carcinoma, chẩn đoán và điều trị)

Ung thư tế bào có vảy của phổi có khuynh hướng xuất phát trong phế quản trung tâm mọc trong lòng phế quản do đó dễ làm xét nghiệm tế bào ở đờm hơn các loại ung thư khác.

Xem theo danh mục