Viêm tắc tiểu phế quản (chẩn đoán và điều trị)


Ngày: 30 - 9 - 2016

Viêm tắc tiểu phế quản có thể kết hợp với viêm khớp dạng thấp, viêm đa cơ và viêm da cơ. Liệu pháp penicillin có thể là nguyên nhân gây viêm tắc tiểu phế quản ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.

Các bệnh đường thở có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chia thành các đặc trưng về lâm sàng và sinh lý bệnh nào đó. Dòng khí bị giới hạn là đặc điểm và là hậu qủa của tắc nghẽn đường thở ngay ở trong lòng đường thở, thành khí đạo bị dầy lên, hay tổn thất các mô kẽ chống đỡ cần để giữ cho khí đạo thông thoáng. Tăng xuất tiết niêm dịch, đường thở bị kích thích, các bất thường về trao đổi khí gây ra ho, xuất tiết đờm, khò khè và khó thở.

Viêm tiểu phế quản là một bệnh hô hấp cấp tính nặng, thường gặp xảy ra ở trẻ em dưới 2 tuổi do virus hợp bào hô hấp, các virus khác (đôi khi gặp) và Mycoplasma pneumoniae gây ra. Viêm tiểu phế quản nhiễm khuẩn cấp không được coi như một thực thể riêng biệt ở người lớn. Tuy nhiên viêm tắc tiểu phế quản không có. Đã có lúc người ta xếp loại nó như một viêm phổi kẽ mạn tính, viêm tắc tiểu phế quản tới nay được xếp loại lại. Có 5 dạng lâm sàng được mô tả: 1) Viêm tắc tiểu phế quản do khói độc; 2) Viêm tắc tiểu phế quản sau nhiễm khuẩn; 3) Viêm tắc tiểu phế quản kết hợp với bệnh mô liên kết và ghép tạng; 4) Viêm tắc tiểu phế quản kết hợp với các tổn thương phổi khu trú; 5) Viêm tắc tiểu phế quản không rõ nguyên nhân với viêm phổi tổ chức hóa. Viêm tắc tiểu phế quản ở người lớn có thể không chẩn đoán ra. Ho, khó thở, nghe phổi có các rên nổ và có rối loạn thông khí phổi tắc nghẽn là những dấu hiệu đặc thù.

Viêm tắc tiểu phế quản do khói độc xảy ra sau 1- 3 tuần tiếp xúc với các oxyd nitrogen, phosgene và các khí có hại khác, Chụp X quang lồng ngực có đông đặc dạng "kính mờ" hay phế nang không đặc hiệu lan tỏa.

Viêm tắc tiểu phế quán sau nhiễm khuẩn là đáp ứng chậm với mycoplasma hay nhiễm virus phổi ở người lớn và có biểu hiện X quang có thể thay đổi nhiều.

Viêm tắc tiểu phế quản có thể kết hợp với viêm khớp dạng thấp, viêm đa cơ và viêm da cơ. Liệu pháp penicillin có thể là nguyên nhân gây viêm tắc tiểu phế quản ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp. Viêm khớp dạng thấp là biến chứng thường gặp khi ghép tim phổi và biến chứng ít gặp khi ghép tủy xương dị loài xảy ra như một bệnh lý mảnh ghép chống lại vật chủ.

Nhận biết viêm tắc tiểu phế quản kết hợp với viêm phổi tổ chức hóa (bronchiolitis obliterans with organizing pneumonia - BOOP) là rất quan trọng. Bệnh ảnh hưởng dến giới nam và nữ như nhau, bệnh nhân đa số tuổi 50 - 70, ho khan, khó thở, triệu chứng như cúm kéo dài từ ít ngày tới nhiều tháng, thường bệnh nhân sốt, sụt cân. Khám phổi nghe có nhiều ran nổ ở hầu hết các bệnh nhân, 1/3 có tiếng khò khè. Ít khi có móng tay khum, chức năng phổi thể hiện rối loạn thông khí hạn chế, thiếu oxy máu, X quang lồng ngực có những đám thâm nhiễm phế nang, hay các đám mờ như kính mờ ở cả hài phổi. Các thâm hhiễm giống như viêm phổi đơn độc và 'tổn thương kẽ lan tỏa gần đây cũng được mô tả.

BOOP chỉ dựa trên lâm sàng thôi thì rất khó chẩn đoán. Các triệu chứng sốt, sút cân, đột nhiên (thường với có nhiễm khuẩn đường hô hấp trên), các triệu chứng tồn tại tương đối trong thời gian ngắn, không có dấu hiệu móng lay khum, có các thâm nhiễm phế nang giúp cho người thầy thuốc lâm sàng phân biệt với bệnh xơ phổi không rõ nguyên nhân. Mô liên kết lỏng lẻo nảy chồi, các tế bào viêm chứa đầy phế nang và các tiểu phế quản xa. Liệu pháp corticosteroid có hiệu qủa trong 2/3 trường hợp tái phát thường xảy ra nếu ngừng corticosteroid sớm. Đa số bệnh nhân phải điều trị ít nhất 9 - 12 tháng. Prednison thường đầu tiên cho 1mg/kg/ngày trong 2 - 3 tháng rồi 20 - 40mg/ngày tùy đáp ứng của bệnh, cuối cùng chế độ giảm dần từng ngày.

Viêm tắc tiểu phế quản hô hấp là rối loạn đường thở ở những người trẻ hút thuốc lá. Về lâm sàng và X quang, rối loạn này giống như xơ phổi không rõ nguyên nhân. Ho, khó thở, nghe phổi có nhiều ran nổ là những dấu hiệu điển hình. Giãn suất phổi giảm có trong xơ phổi không rõ nguyên nhân không thấy có trong bệnh này. Chỉ có thể chẩn đoán rõ ràng bệnh khi làm sinh thiết phổi mở thấy có dị sản các tiểu phế quản tận và các tiểu phế quản hô hấp và trong các tiểu phế quản tận và tiểu phế quản hô hấp, các ống phế nang, các phế nang chứa đầy đại thực bào phế nàng có nhiều sắc tố.

Viêm toàn thể các tiểu phế quăn lan tỏa là rối loạn các tiểu phế quản hô hấp không rõ nguyên nhân thường gập ở Nhật Bản. Ở Hoa Kỳ ít khi gặp. Nam gặp nhiều gấp đôi nữ, bệnh nhân thường hầu hết ở tuổi giữa 20 và 80. Khoảng 2/3 bệnh nhân là không hút thuốc. Đa số có tiền sử viêm toàn thể các xoang. Khó thở, ho, nhiều đờm là các biểu hiện chính yếu. Khám phổi nghe có nhiều tiếng rên nổ, rên ngáy. Thử nghiệm chức năng phổi có rối loạn thông khí tắc nghẽn. Chụp X quang phổ có nhiều nốt lan tòa, hình phổi căng phồng. Sinh thiết phổi mở rất cần để làm chẩn đoán, sinh thiết thấy thành các tiểu phế quản dầy lên, Các tế bào viêm mạn tính nhiều, xâm nhập vào các mô quanh phế quản. Nhiễm khuẩn đường thở thường do loại P. aeruginosa. Ở các giai đoạn bệnh tiến triển thường có biểu hiện giãn phế quản. Điều trị chỉ là hỗ trợ bao gồm phải ngừng hút thuốc, cho thuốc giãn phế quản, kháng sinh, corticosteroid. Tiên lượng xấu, thường tiến triển nhanh đến một tình trạng xấu hơn.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD (chẩn đoán và điều trị)

Viêm phế quản mạn tính có đặc điểm là tăng tiết niêm dịch phế quản biểu thị bằng ho có đờm từ 3 tháng trở lên trong ít nhất 2 năm liền mà không phải do bất kỳ bệnh nào khác gây nên.

Hội chứng tăng thông khí (chẩn đoán và điều trị)

Tăng thông khí là sự tâng thông khi phế nang gây ra nhược thán. Nó có thể do nhiều nguyên nhân như thiếu oxy máu, các bệnh phổi thâm nhiễm và tắc nghẽn, nhiễm khuẩn, rối loạn chức náng gan, sốt và đau.

Các thâm nhiễm phổi ở người suy giảm miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Để chẩn đoán, nên cấy máu, xét nghiệm và cấy đờm, dịch màng phổi nếu có, xét nghiệm đờm khạc ra tìm vi khuẩn, nấm, trực khuẩn lao, Legionella và P. carinii lá quan trọng.

Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh phổi (chẩn đoán bệnh hô hấp)

Thở rít khi hít vào và thở rít khi thở ra cùng với nhau gợi cho thấy có tắc nghẽn cố định ở nơi nào đó trong đường thở phía trên. Ngáy là tiếng thở vào do rung động thanh hầu khi ngủ.

Hen phế quản (chẩn đoán và điều trị)

Sinh bệnh học của hen còn biết rất ít. Ngày nay hen đầu tiên được nhìn nhận như một bệnh viêm bán cấp đường thở. Vai trò của các cơ chế dị ứng trong số lớn bệnh nhân bị hen được chú ý nhiều.

Viêm phổi (chẩn đoán và điều trị)

Chụp X quang phổi nằm trong các xét nghiệm đầu tiên cần làm đối với bệnh nhân có các triệu chứng và dấu hiệu nghi có viêm phổi. Hình thâm nhiễm không đặc trưng cho nguyên nhân phổi.

Bệnh xơ nang (chẩn đoán và điều trị)

Các biểu hiện của phổi xảy ra ở mọi bệnh nhân thoát qua được tuổi niên thiếu gồm có viêm phế quản cấp và mạn, giãn phế quản, viêm phổi, xẹp phổi, tổn thương nhu mô và vùng quánh phế quản.

Viêm khí phế quản cấp (chẩn đoán và điều trị)

Các dấu hiệu thực thể rất ít hay không có. Sau khi ho ra nhiều đờm, nghe phổi có thể mất tiếng ran ngáy nhưng khò khè vẫn còn. Các dấu hiệu đông đặc phổi không có.

Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện (chẩn đoán và điều trị)

Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện được định nghĩa là viêm phổi xảy ra từ trên 48 giờ sau khi vào viện, là một trong những nguyên nhân chủ yếu của bệnh tật và tử vong của bệnh nhân nằm viện.

Tắc đường hô hấp (chẩn đoán và điều trị)

Tắc mạn tính đường hô hấp trên có thể do carcinom hầu họng hay thanh quản, chít hẹp thanh quản hay dưới nắp thanh quản, u hạt thanh quản hay dây thanh hoặc liệt dây thanh âm hai bên.

Tràn dịch màng phổi (chẩn đoán và điều trị)

Có 5 loại tràn dịch màng phổi chủ yếu là tràn dịch màng phổi dịch thấm, dịch rỉ, mủ màng phổi, chảy máu hay tràn máu lồng ngực và dưỡng chấp hay tràn dịch dưỡng chấp.

Nốt phổi đơn độc (chẩn đoán và điều trị)

Các thử nghiệm da và huyết thanh chẩn đoán tìm nấm không giúp gì cho chẩn đoán. Xét nghiệm đờm tìm tế bào phải làm để đánh giá nốt phổi lớn khu trú ở trung tâm.

Tràn khí màng phổi tự phát (chẩn đoán và điều trị)

Tràn khí màng phổi thứ phát xảy ra như một biến chứng của COPD, hen, xơ nang, lao và cac bệnh phổi thâm nhiễm các loại gồm cả viêm phổi pneumocystis.

Các test chẩn đoán bệnh phổi (test chức năng, test luyện tập và soi phế quản)

Đo phế dung và đo các thể tích phổi cho phép xác định có rối loạn chức năng phổi hạn chế hay tắc nghẽn không. Rối loạn chức năng phổi tắc nghẽn được xác định khi các tỷ lệ dòng khí giảm.

Bệnh Sarcoid (chẩn đoán và điều trị)

Những vị trí có thể làm sinh thiết được như các hạch bạch huyết sờ thấy được, các tổn thương ở da hay ở tuyến nước bọt chỉ định cho làm sinh thiết sẽ giúp thêm bằng chứng cho chẩn đoán.

Xem theo danh mục