Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh phổi (chẩn đoán bệnh hô hấp)

Ngày: 13 - 9 - 2016

Thở rít khi hít vào và thở rít khi thở ra cùng với nhau gợi cho thấy có tắc nghẽn cố định ở nơi nào đó trong đường thở phía trên. Ngáy là tiếng thở vào do rung động thanh hầu khi ngủ.


Các triệu chứng của bệnh phổi

Khó thở là cảm giác thiếu thở, cảm giác này tăng lên do bất kỳ hoạt động thể lực nào. Người thầy thuốc nên ghi mức hoạt động gây nên khó thở, sử dụng làm cơ sở đánh giá kết qủa điều trị. Khó thở do phổi có thể do các rối loạn đường thở, nhu mô phổi, màng phổi, cơ hô hấp hay do thành ngực. Các rối loạn ngoài phổi gây khó thở gồm bệnh tim, sốc, thiếu máu, các tình trạng tăng chuyển hóa và lo lắng.

Khó thờ về đêm kịch phát (thiếu thở không thích hợp về đêm) và chứng khó thở nằm thường do suy giảm chức năng thất trái nhưng cũng có thể thấy trong hen, hít sặc, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (ví dụ suy tim, chứng đau thắt ngực).

Chứng khó thờ đứng ngược với khó thở nằm là khó thở trong tư thế đứng, dịu đi khi nằm. Triệu chứng ít gặp này thường gây ra bởi có nối tắt trong tim từ phải qua trái hay có nối tắt mạch phổi của máu tĩnh mạch.

Ho dai dẳng luôn phải coi là là bất thường. Phản xạ ho có thể khởi phát bởi klch thích các cơ quan nhận cảm khu trú ở đường khí phế quản, đường hô hấp trên và những nơi khác như ở các xoang, ống tai, màng phổi, màng ngoài tim, thực quản, dạ dày và cơ hoành. Ho dai dẳng, mạn tính thường do hút thuốc, hen hay bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Ho cũng có thể do thuốc gây ra (các chất ức chế men chuyển angiotensin), do bệnh tim, các tác nhân nghề nghiệp, các yếu tố tâm thần. Người thày thuốc cũng có thể gặp các bệnh nhân ho mà hỏi tiền sử, thăm khám, chụp X quang lồng ngực, các thử nghiệm chức năng phổi không cho thấy một nguyên nhân đặc hiệu nào. Trong những trường hợp như thế nguyên nhân thường là do viêm xoang xuất tiết dịch chảy sau mũi vào đường hô hấp, do hen không phát hiện ra, do trào ngược dạ dày thực quản, do viêm phế quản hay giãn phế quản. Các biến chứng của ho dữ dội gồm co thắt phế quản, nôn mửa, gẫy xương sườn, són nước tiểu và đôi khi ngất.

Thở rít là tiếng rít trong khi thở gây ra bởi dòng khí thác loạn đi qua đường thở bên trên bị hẹp lại. Thở rít khi hít vào gợi cho thấy có tắc nghẽn đường thở ngoài lồng ngực còn thở rít khi thở ra chỉ cho ta thấy có tắc nghẽn đường thở trong lòng ngực. Thở rít khi hít vào và thở rít khi thở ra cùng với nhau gợi cho thấy có tắc nghẽn cố định ở nơi nào đó trong đường thở phía trên. Ngáy là tiếng thở vào do rung động thanh hầu khi ngủ.

Thờ khò khè là các tiếng liên tục gây ra bởi dòng khí thác loạn qua các đường khí trong lồng ngực. Hầu hết, nhưng không phải là tất cả, cho rằng thở khò khè là do hen. Thở khò khè có thể kèm theo cảm giác bó chặt lông ngực, một cảm giác không đặc hiệu do thở phải gắng sức do co khít phế quản.

Ho ra máu là sự khạc ra máu hay đờm nhuốm máu, là chỉ điểm đầu tiên của bệnh phổi phế quản nghiêm trọng phải phân biệt với nôn ra máu và chảy máu đường mũi họng. Viêm phế quản và giãn phế quản tuy là nguyên nhân thường gặp nhất của ho ra máu nhưng luôn luôn phải loại trừ nguyên nhân do carcinoma. Ho ra máu nhiều được định nghĩa một cách độc đoán là ho ra máu với khối lượng 200 - 600ml trong 24 giờ, thường do giãn phế quản, lao (đặc biệt từ phình mạch Rasmussen trong hang lao), u nấm và các bệnh nung mủ mạn tính của nhu mô phổi. Ho ra máu ít tự giới hạn được, đôi khi xảy ra khi ho mạnh kèm theo nhiễm khuẩn đường hô hấp trên hay dưới.

Các dấu hiệu của bệnh phổi

Thở nhanh hay thở nhanh và nông có thể định nghĩa là một tỷ lệ thở qúa 18 lần/phút. Một số người cho giới hạn binh thường của thở lả 16 đến 20 hay 25 lần/phút. Nếu đột nhiên có thở nhanh hoặc có thở nhanh dai dẳng thì phải chú ý đặc biệt. Thở nhanh sâu là thở nhanh và sâu. Tăng thông khí là tăng tổng lượng khí vào phế nang do nhược thán (được xác định bởi PCO2 < 40 mmHg).

Lồng ngực thường cân đối, cả hai phía giãn đều khi hít vào. Sự không cân đối khi nghỉ ngơi có trong vẹo cột sống, biến dạng thành ngực, xơ lồng ngực nặng và một bên lồng ngực mất thể tích phổi. Sự giãn rộng của lồng ngực giảm cân đối khi hít vào sâu thấy trong các trường hợp như hênh thần kinh cơ, giãn phế nang, xơ cứng cột sống. Sự giãn rộng lồng ngực không cân đối khi hít vào gợi tới tắc nghẽn đường thở một bên, xơ màng phổi hay xơ phổi hay lồng ngực bị bó lại do đau lồng ngực. Lồng ngực giãn rộng nhưng bụng xẹp lại khi hít vào là có suy yếu hay liệt cơ hoành. Nếu lồng ngực xẹp và bụng nhô lên khi hít vào có thể do có tắc đường thở, liệt cơ gian sườn hay do có một biến dạng thành ngực.

Áp lực máu động mạch tụt xuống chừng 5 mmHg khi hít vào. Mạch nghịch thường là một sự gia tăng qúa mức của đáp ứng binh thường, được xác định khi có giảm áp lực động mạch tâm thu 10 mmHg hay hơn khi hít vào. Điều này xảy ra trong hen nặng, nghẽn mạch phổi, co khít màng ngoài tim hay chẹn tim và bệnh tim hạn chế. Tím tái là sự nhuốm màu xanh nhạt của da hay niêm mạc do tăng tổng số (>5g/dL) hemoglobin không bão hòa trong máu. Thiếu máu có thể báo trước sự phát hiện tím tái ở bệnh nhân thiếu oxy. Tím tái trung tâm thường do thiếu oxy do suy hô hấp, do có thông phải sang trái trong tim hay do nối tắt mạch trong phổi gây ra, thấy rõ khi quan sát niêm mạc miệng. Tím tái ngoại biên phần lớn do các nguyên nhân ngoài hô hấp như do giảm cung lượng tim và do co thắt mạch.

Ngón lay dùi trống xảy ra khi có dày trước sau của ngón trỏ ở nền của móng vượt qúa bề dày của khớp liên đốt ngón. Móng xốp, khum tròn, góc giữa phiến mỏng và khe da mỏng ở gần giữa bẹt phẳng. Dùi trống cân đối xảy ra trong ung thư phổi, giãn phế quản, áp xe phổi, dị dạng động - tĩnh mạch phổi, xơ phổi không rõ căn nguyên và xơ nang. Ít thấy ngón tay dùi trống trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và trong hen mạn tính. Những nguyên nhân ngoài phổi của ngón tay dùi trống cân đối là bệnh tim bẩm sinh tím tái, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, xơ gan và các bệnh viêm nhiễm đường ruột. Ngón tay dùi trống có thể là bẩm sinh.

Gõ vang có trong các trường hợp phổi bị căng phồng (hen, giãn phế nang) và trong tràn khí màng phổi. Gõ đục khi màng phổi hay thành ngực bị dầy lên, trong tràn dịch màng phổi, khi cơ hoành lên cao hay khi các tạng trong ổ bụng di chuyển lên phía lồng ngực.

Tiếng thở phể nang bình thường dịu, nhiều ở phía dưới, nghe rõ ở vùng ngoại vi của phổi. Việc nghe thấy các tiếng thở khí (phế) quản trong các vùng bình thường phải có tiếng ri rào phế nang sẽ cho thấy phổi bị động đặc, đè ép hay thâm nhiễm. Tiếng thờ phế nang phế quàn về ọưòng độ là trung gian giữa tiếng thở phế nang và tiếng thở phế quản. Các tiếng thờ giảm có nghĩa bị tắc nghẽn khi hít vào của dòng khí trong đường thở lớn, bệnh màng phổi (đặc biệt là tràn dịch), tràn khí, béo bệu hay thể tích không khí lưu thông thấp.

Các tiếng ngoại lai là các tiếng bất thường khi nghe có thể xếp thành các tiếng liên tục (khò khè, rện ngáy) hay các tiếng không liên tục (tiếng lép bép, tiếng rên nổ hay các tiếng rên). Các tiếng khò khè ở vùng cao do co thắt phế quản, phù niêm mạc phế quản hay tiểu phế quản hay tắc khí đạo bởi chất nhầy, khối u hay dị vật. Tiếng rên ngáy ở vùng thấp thường do đờm trong khí đạo lớn khi ho ra được sẽ hết. Các tiếng lép bép thường do tiếng đập mở của các khí đạo nhỏ khi hít vào. Các tiếng lép bép nhỏ thường nghe thấy trong các bệnh phổi kẽ và trong viêm phổi giai đoạn sớm hay suy tim xung huyết. Các tiếng lép bép thô thường nghe thấy muộn trong tiến trình phù phổi hay viêm phổi. Sờ rung âm thanh cảm thấy được trên ngón tay biểu thị các rung động âm thanh sờ thấy được trên thành ngực. Đó là điều bình thường. Các sờ rung giảm đi khu trú xảy ra khi có tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi hay dầy thành ngực. Sờ rung tăng khi có đông đặc phổi. Sờ rung ngáy có nghĩa là các rung động thô sờ thấy được trên thành ngực ở bệnh nhân có rên ngáy to.

Tiếng vang phế quàn là sự tăng cường độ và độ nét của lời nói khi nghe phổi, nghe thấy trên các vùng phổi đông đặc hay phổi bị đè ép. Tiếng ngực thầm là dạng đặc biệt của tiếng vang phế quản trong đó lời nói rất nhẹ có thể nghe thấy khi nghe phổi. Tiếng dê kêu nghe thấy a...a khi bệnh nhân nói e...e. Nghe thấy trên phần phổi bị ép phía trên nơi tràn dịch màng phổi và khi phổi bị đông đặc.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD (chẩn đoán và điều trị)

Viêm phế quản mạn tính có đặc điểm là tăng tiết niêm dịch phế quản biểu thị bằng ho có đờm từ 3 tháng trở lên trong ít nhất 2 năm liền mà không phải do bất kỳ bệnh nào khác gây nên.

Hen phế quản (chẩn đoán và điều trị)

Sinh bệnh học của hen còn biết rất ít. Ngày nay hen đầu tiên được nhìn nhận như một bệnh viêm bán cấp đường thở. Vai trò của các cơ chế dị ứng trong số lớn bệnh nhân bị hen được chú ý nhiều.

Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh phổi (chẩn đoán bệnh hô hấp)

Thở rít khi hít vào và thở rít khi thở ra cùng với nhau gợi cho thấy có tắc nghẽn cố định ở nơi nào đó trong đường thở phía trên. Ngáy là tiếng thở vào do rung động thanh hầu khi ngủ.

Viêm phổi (chẩn đoán và điều trị)

Chụp X quang phổi nằm trong các xét nghiệm đầu tiên cần làm đối với bệnh nhân có các triệu chứng và dấu hiệu nghi có viêm phổi. Hình thâm nhiễm không đặc trưng cho nguyên nhân phổi.

Hội chứng tăng thông khí (chẩn đoán và điều trị)

Tăng thông khí là sự tâng thông khi phế nang gây ra nhược thán. Nó có thể do nhiều nguyên nhân như thiếu oxy máu, các bệnh phổi thâm nhiễm và tắc nghẽn, nhiễm khuẩn, rối loạn chức náng gan, sốt và đau.

Các thâm nhiễm phổi ở người suy giảm miễn dịch (chẩn đoán và điều trị)

Để chẩn đoán, nên cấy máu, xét nghiệm và cấy đờm, dịch màng phổi nếu có, xét nghiệm đờm khạc ra tìm vi khuẩn, nấm, trực khuẩn lao, Legionella và P. carinii lá quan trọng.

Bệnh xơ nang (chẩn đoán và điều trị)

Các biểu hiện của phổi xảy ra ở mọi bệnh nhân thoát qua được tuổi niên thiếu gồm có viêm phế quản cấp và mạn, giãn phế quản, viêm phổi, xẹp phổi, tổn thương nhu mô và vùng quánh phế quản.

Các test chẩn đoán bệnh phổi (test chức năng, test luyện tập và soi phế quản)

Đo phế dung và đo các thể tích phổi cho phép xác định có rối loạn chức năng phổi hạn chế hay tắc nghẽn không. Rối loạn chức năng phổi tắc nghẽn được xác định khi các tỷ lệ dòng khí giảm.

Tắc đường hô hấp (chẩn đoán và điều trị)

Tắc mạn tính đường hô hấp trên có thể do carcinom hầu họng hay thanh quản, chít hẹp thanh quản hay dưới nắp thanh quản, u hạt thanh quản hay dây thanh hoặc liệt dây thanh âm hai bên.

Viêm khí phế quản cấp (chẩn đoán và điều trị)

Các dấu hiệu thực thể rất ít hay không có. Sau khi ho ra nhiều đờm, nghe phổi có thể mất tiếng ran ngáy nhưng khò khè vẫn còn. Các dấu hiệu đông đặc phổi không có.

Bệnh nấm aspergillus phổi phế quản dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Tiêu chuẩn chẩn đoán thứ đến là phân lập được aspergillus trong đờm, tiền sử có đờm lốm đốm máu, phản ứng bì muộn với kháng nguyên aspergillus.

Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện (chẩn đoán và điều trị)

Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện được định nghĩa là viêm phổi xảy ra từ trên 48 giờ sau khi vào viện, là một trong những nguyên nhân chủ yếu của bệnh tật và tử vong của bệnh nhân nằm viện.

Nốt phổi đơn độc (chẩn đoán và điều trị)

Các thử nghiệm da và huyết thanh chẩn đoán tìm nấm không giúp gì cho chẩn đoán. Xét nghiệm đờm tìm tế bào phải làm để đánh giá nốt phổi lớn khu trú ở trung tâm.

Tràn dịch màng phổi (chẩn đoán và điều trị)

Có 5 loại tràn dịch màng phổi chủ yếu là tràn dịch màng phổi dịch thấm, dịch rỉ, mủ màng phổi, chảy máu hay tràn máu lồng ngực và dưỡng chấp hay tràn dịch dưỡng chấp.

Giãn phế quản (chẩn đoán và điều trị)

Giãn phế quản là rối loạn bẩm sinh hay mắc phải của phế quản lớn đặc trưng bởi có giãn và hủy hoại bất thường, hằng định thành phế quản. Bệnh có thể do viêm hay nhiễm khuẩn đường hô hấp tái đi tái lại.

Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng (chẩn đoán và điều trị)

Làm sạch các thâm nhiễm phổi ở bệnh nhân viêm phổi mắc phải ở cộng đồng phải mất 6 tuần hay lâu hơn: ở người trẻ thời gian này nhanh hơn hoặc đó là người không hút thuốc hay chỉ tổn thương một thùy.

Lao phổi (chẩn đoán và điều trị)

Các chủng trực khuẩn lao kháng với một hay nhiều thuốc chống lao chủ yếu gặp thấy với tần số tăng đến mức báo động, đặc biệt ở cư dân các đô thị.

Viêm tắc tiểu phế quản (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tắc tiểu phế quản có thể kết hợp với viêm khớp dạng thấp, viêm đa cơ và viêm da cơ. Liệu pháp penicillin có thể là nguyên nhân gây viêm tắc tiểu phế quản ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.

Tăng áp lực động mạch phổi (chẩn đoán và điều trị)

Tăng áp lực động mạch phổi thứ phát thì khó nhận biết về mặt lâm sàng trong các giai đoạn sớm, khi các triệu chứng và các dấu hiệu của bệnh gây ra nó còn sơ khởi.

Các bệnh phổi nghề nghiệp (chẩn đoán và điều trị)

Các bệnh phổi nghề nghiệp có biểu hiện rối loạn đường hô hấp tắc nghẽn gồm có hen nghề nghiệp, viêm phế quản công nghiệp và bệnh bụi bông.

Viêm phổi kỵ khí và áp xe phổi (chẩn đoán và điều trị)

Nhiễm khuẩn kỵ khí các loại khác nhau có biểu hiện trên phim X quang khác nhau có thể phân biệt được. Áp xe phổi có biểu hiện trên phim X quang là một hang đơn độc thành dầy bao quanh có vùng đông đặc.

Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan (chẩn đoán và điều trị)

Một dạng cấp, nặng của viêm phổi tăng bạch cầu ái toan gần đây được mô tả, đặc trưng bởi sốt, suy hô hấp, dịch rửa phế quản phế nang có tỷ lệ bạch cầu ái toan cao, điều trị bằng erythromycin và corticosteroid có đáp ứng nhanh và không tái đi tái lại.

Tràn khí màng phổi tự phát (chẩn đoán và điều trị)

Tràn khí màng phổi thứ phát xảy ra như một biến chứng của COPD, hen, xơ nang, lao và cac bệnh phổi thâm nhiễm các loại gồm cả viêm phổi pneumocystis.

Suy hô hấp cấp (chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng và dấu hiệu của suy hô hấp cấp vừa không nhậy cảm vừa không đặc hiệu do đó người thầy thuốc phải nghĩ tới và yêu cầu làm xét nghiệm đo khí máu động mạch nếu nghi có suy hô hấp.

Ung thư biểu mô nguồn gốc phế quản (carcinoma, chẩn đoán và điều trị)

Ung thư tế bào có vảy của phổi có khuynh hướng xuất phát trong phế quản trung tâm mọc trong lòng phế quản do đó dễ làm xét nghiệm tế bào ở đờm hơn các loại ung thư khác.

Xem theo danh mục