Các hội chứng ống túi mật (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 2016-1-6

Sau cắt bỏ túi mật, một số bệnh nhân phàn nàn là các triệu chứng vẫn tiếp tục như đau phần tư bụng trên bên phải, đầy hơi, và không dung nạp thức ăn mỡ.



Trước phẫu thuật cắt túi mật

Ở nhóm nhỏ bệnh nhân (hầu như là nữ giới) đau bụng phần tư trên bên phải thường xảy ra sau bữa ăn và chụp X quang thông thường đường tiêu hóa trên, túi mật (bao gồm cả chụp đường mật) là không rõ ràng. Tuy nhiên, sử dụng cholecystokinin (CCK) như là chất kích thích túi mật thì sự co bóp và bài xuất của túi mật không diễn ra, thường xảy ra trong 3 - 5 phút sau khi tiêm hormon. Thay vào đó túi mật giãn giống hình quả bóng gôn và đau kiểu sỏi mật được tái hiện lại. Ở thời điểm cắt bỏ túi mật, túi mật thường to và không thể làm rỗng được qua ép bằng tay. Quan sát mô học và giải phẫu học của mẫu cắt bỏ cho thấy có tắc nghẽn của ống túi mật bởi vì hẹp do xơ hóa hoặc dính và xoắn vặn. Những xem xét chẩn đoán bổ xung là co thắt bóng Vater và loạn vận động đường mật.

Sau phẫu thuật cắt túi mật

Sau cắt bỏ túi mật, một số bệnh nhân phàn nàn là các triệu chứng vẫn tiếp tục như đau phần tư bụng trên bên phải, đầy hơi, và không dung nạp thức ăn mỡ. Sự tồn tại của các triệu chứng trong nhóm bệnh nhân này gợi ý tới khả năng chẩn đoán sai trước phẫu thuật cắt túi mật như viêm thực quản, viêm tụy, bệnh rễ thần kinh hoặc bệnh ruột cơ năng. Điều quan trọng là phải loại trừ khả năng sỏi túi mật hoặc chít hẹp ống mật chủ như là nguyên nhân của các triệu chứng tồn tại dai dẳng trong giai đoạn hậu phẫu. Đàu đi kèm với giãn phần ống túi mật còn lại, hình thành u thần kinh ở thành ống mật, u hạt hoặc co thắt ống mật chủ do ống túi mật dài. Biểu hiện lâm sàng là đau bụng, ớn lạnh, sốt hoặc hoàng đảm sẽ gợi ý tới bệnh đường mật. Đau bụng sỏi mật kèm theo tăng của các xét nghiệm chức năng gan hoặc amylase gợi ý tới khả năng co thắt bóng Vater. Siêu âm, nội soi ổ bụng hoặc chụp đường mật ngược dòng có thể là cần thiết để xác định hoặc loại trừ bệnh đường mật. Đo áp lực mật trong ERCP có thể được dùng để đánh giá tăng áp lực của cơ thắt Oddi, điển hình của rối loạn hoạt động cơ thắt. Cắt cơ thắt qua nội soi hoặc phẫu thuật tạo hình cơ thắt với việc thám sát ống mật chủ tìm sỏi hoặc cắt bỏ phần còn lại của ống túi mật là cần thiết.