Bệnh Wilson (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 2016-1-5

By member of dieutri.vn

Nhận biết bệnh là quan trọng vì bệnh có thể giống như ở viêm gan mạn tính, các rối loạn tâm thần hoặc bệnh thần kinh, Bệnh có thể hồi phục và điều trị thích hợp

Bệnh Wilson (thoái hóa gan nhân đậu) là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường và hịếm gặp (hay gặp ở lứa tuổi từ 10 - 30). Bệnh được đặc trưng bằng sự lắng đọng, quá mức của đồng trong gan và não. Khiếm khuyết về mặt di truyền, định vị trên nhiễm sắc thể 13, được chỉ ra có ảnh hưởng trên adenosin triphosphatase (ATP 7B) vận chuyển đồng trong gan. Trên 50 loại đột biến khác nhau trong gen của bệnh Wilson đã được xác định nên đưa ra chẩn đoán di truyền là không chắc chắn.

Nhận biết bệnh là quan trọng vì bệnh có thể giống như ở viêm gan mạn tính, các rối loạn tâm thần hoặc bệnh thần kinh. Bệnh có thể hồi phục và điều trị thích hợp sẽ ngăn ngừa được tổn thương gan và thần kinh.

Sự sai lệch về mặt sinh lý học chủ yếu trong bệnh Wilson là sự hấp thu quá mức đồng từ ruột non và giảm bài tiết đồng qua gạn, dẫn đến tăng lắng đọng ở mô, đặc biệt ở gan, não, giác mạc và thận. Ceruloplasmịn huyết thanh, protein vận chuyển đổng huyết tương là thấp. Bài tiết đồng qua nước tiểu cao.

Các biểu hiện lâm sàng

Bệnh Wilson có khuynh hướng biểu hiện như bệnh gan ở tuổi thanh thiếu niên và bệnh tâm thần kinh ở người trưởng thành trẻ tuổi, nhưng bệnh rất đa dạng. Luôn xem xét đến chẩn đoán ở bất kỳ đứa trẻ hoặc người trưởng thành trẻ tuổi nào bị viêm gan, lách to với tăng năng lách, thiếu máu huyết tán, tăng áp lực tĩnh mạch cửa và những bất thường về mặt tâm thần hoặc thần kinh. Cũng nên xem xét đến bệnh Wilson ở nhứng người dưới 40 tuổi có viêm gan tối cấp hoặc mạn tính.

Tổn thương gan có thể thay đổi từ tăng các xét nghiệm chức năng gan đến xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Những biểu hiện thần kinh liên quan đến rối loạn chức năng của hạch cơ bản và được đặc trưng bằng biểu hiện cứng đơ và run kiểu Parkinson. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là vòng Keyser- Fleisher màu xanh xám hoặc nâu, được biểu hiện bằng những lắng đọng dạng hạt tăng sắc tố mảnh ở màng Descemet của giác mạc sát với bề mặt nội mô. Vòng này thường rõ nhất ở cực trên và dưới của giác mạc. Vòng thường được quan sát bằng mắt thường và bất biến khi khám bằng đèn khe. Vòng có thể không có ở những bệnh nhân chỉ có căc biểu hiện ở gan nhưng thường có ở những bệnh nhân có bệnh tâm thần kinh.

Chẩn đoán dựa trên sự phát hiện có tăng bài tiết đồng qua nước tiểu (> 100 µ/ 24 giờ) hoặc, mức ceruloplasmin huyết thanh thãp (<20pg/dl) và tăng nồng độ đồng trong gan (> 250 µ/g gan khô). Ở những trường hợp nghi ngờ, chẩn đoán có thể cần chứng minh bằng việc đồng đánh dấu phóng xạ hợp nhất vào ceruloplasmin thấp. Sinh thiết gan có thể cho thấy có viêm gan cấp hoặc mạn, hoặc xơ gan.

Điều trị

Điềụ trị sớm để loại bỏ đồng quá tải là cần thiết trước khi đồng có thể gây tổn thương thần kinh hoặc gan. Lúc mới điều trị, chế độ ăn hạn chế đồng (sò, ốc, tôm, cua, thực phẩm phủ tạng, và cây họ đậu có nhiều đồng) có thể có giá trị. Penicillamin (0,75- 2g/ ngày chia liều nhỏ) là thuốc được lựa chọn thuốc có thể bài tiết qua nước tiểu đồng chelat. Pyridoxin 50 mg/ tuần được dùng thêm vào bởi vì penicillamin do chống chuyển hóa của vitamin này. Nếu không dung nạp với điều trị bằng penicillamin bởi vì những phản ứng dạ dày ruột, mẫn cảm hoặc tự miễn thì nên xem xét việc sử dụng trientin 250- 500 mg x 3 lần/ngày. uống kẽm acetat 50 mg x 3 lần/ ngày sẽ thúc đẩy bài tiết đồng qua phân và có thể được sử dụng như liệu pháp duy trì sau khi loại đồng bằng tác nhân tạo chelat hoặc là thuốc trị liệu đầu tiên ở những bệnh nhân tiền triệu chứng hoặc đang mang thai.

Cần điều trị vô hạn định. Tiên lượng là tốt ở những bệnh nhân được điều trị hiệu quả trước khi xảy ra tổn thương gan hoặc não. Ghép gan được chỉ định cho viêm gan tối cấp, xơ gan giai đoạn cuối và những trường hợp được lựa chọn bị mắc bệnh thần kinh khó chữa. Những thành viên trong gia đình, đặc biệt anh chị em ruột cần được sàng lọc bằng định lượng ceruloplasmin huyết thanh, các xét nghiệm chức năng gan và khám mắt bằng đèn khe.