Carcinoma tế bào gan (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 5 - 1 - 2016

Về mặt mô học, carcinoma tế bào gan được hình thành từ các dây hoặc dải tế bào đại khái giống nhu mô gan. Những mạch máu như tĩnh mạch cửa hoặc gan thường bị ảnh hưởng do khối u.


Những khối u ác tính của gan phát sinh từ những tế bào nhu mô gọi là carcinoma tế bào gan; những khối u ác tính có nguồn gốc từ các tế bào ống mật gọi là carcinoma ống mật.

Carcinoma tế bào gan nhìn chung kèm theo xơ gan và đặc biệt là viêm gan B hoặc C. ở châu Phi và hầu hết châu Á, viêm gan B là yếu tố bệnh nguyên chính, trong khi ở các nước phương Tây và Nhật Bản thì viêm gan C và xơ gan do rượu lại là những nguyên nhân phổ biến nhất. Những tình trạng kết hợp khác bao gồm nhiễm sắc tố sắt mô, nhiễm aflatoxin (kèm với đột biến của gen P53), thiếu hụt men α1- antiprotease (α1- antitrypsin), và nhiễm tyrosin huyết. Biến thể lá xơ (fibrolamellar) của carcinoma tế bào gan gặp ở phụ nữ trẻ và được đặc trưng bằng bệnh cảnh mô học, không có các yếu tố nguy cơ, và diễn biến bệnh không đau.

Về mặt mô học, carcinoma tế bào gan được hình thành từ các dây hoặc dải tế bào đại khái giống nhu mô gan. Những mạch máu như tĩnh mạch cửa hoặc gan thường bị ảnh hưởng do khối u.

Sự hiện hữu của carcinoma tế bào gan có thể không còn nghi ngờ cho đến khi có sự xấu đi của tình trạng bệnh gặp ở bệnh nhân xơ gan đã ổn định trước đó. Suy mòn, yếu, và sụt cân là các triệu chứng đi kèm. Sự xuất hiện đột ngột của cổ trướng có thể có máu gợi ý huyết khối tĩnh mạch cửa hoặc gan do khối u hoặc chảy máu từ khối u hoại tử.

Khám thực thể có thể cho thấy gan to mềm, đôi khi có thể sờ thấy khối u. Ở châu Phi, những bệnh nhân trẻ điển hình có khối u ở bụng to nhanh. Nghe có thể phát hiện tiếng động trên khối u hoặc xương sườn khi khối u lan rộng đến bề mặt của gan.

Các xét nghiệm cận lâm sàng có thể thấy tăng bạch cầu, ngược với giảm bạch cầu thường gặp ở những bệnh nhân xơ gan. Hematocrit có thể bình thường hoặc tăng, bởi vì khối u tạo ra erythropoietin. Tăng đột ngột và dai dẳng phosphatase kiềm trong huyết thanh của bệnh nhân trước đó đã ổn định là dấu hiệu thường gặp. Kháng nguyên bề mặt viêm gan B thường có ở những trường hợp tử vong ở vùng dịch địa phương, còn ở Mỹ kháng HCV lại có ở tới 40% các trường hợp. Mức alpha fetoproteiri tăng ở 60% các bệnh nhân carcinoma tế bào gan. Xét nghiệm tế bào học của dịch cổ trướng hiếm khi thấy những tế bào ác tính.

Những biểu hiện của chụp động mạch là đặc trưng, phát hiện khối u “đỏ” phản ánh bản chất giàu mạch máu của khối u. Chụp cắt lớp vi tính có hoặc không có thuốc cản quang hoặc MRI xác đinh vị trí và mức độ giàu mạch máu của khối u. Cần sinh thiết gan để xác định chẩn đoán. Sự phân giai đoạn trong hệ phân loại TNM bao gồm : TO- không có bằng chứng của khối u nguyên phát; Tl- khối đơn độc ≤ 2cm)T2- khối u đơn độc < 2cm với sự xâm lấn mạch máu hoặc > 2 cm không có xâm lân mạch máu hoặc < 2cm và có nhiều ở một thùy; T3- khối u đơn độc > 2cm với sự xâm lấn mạch máu, hoặc < 2cm và đa khối u ở một thùy với bất kỳ khối u nào > 2cm có kèm theo hoặc không xâm lấn mạch máu; và T4- đa khối u ở nhiều hơn một thùy hoặc liên quan đến nhánh chính của tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch gan.

Những nỗ lực cắt bỏ bằng phẫu thuật thường thất bại nếu có xơ gan đồng phát và nếu khối u đa ổ. Phẫu thuật cắt bỏ carcinoma tế bào gan đơn độc có thể có hiệu quả nếu chức năng gan bình thường. Tỷ lệ sống sót chung sau 5 năm lên tới 56% ở những bệnh nhân bị bệnh khu trú có thể cắt bỏ (T1, T2, T3, một số trường hợp T4; NO; MO) nhưng thực sự lại bằng không cho những bệnh nhân bị bệnh quá phát hoặc khu trú nhưng không thể cắt bỏ. Ghép gan có thể là thích hợp cho những khối u nhỏ không thể cắt bỏ ở bệnh nhân có xơ gan tiến triển với tỷ lệ sống sót sau 5 năm lên tới 75%. Hóa trị liệu không cho thấy có thể kéo dài được thời gian sống; nhưng hóa trị liệu gây nghẽn mạch qua động mạch gan có thể là điều trị tạm thời. Tiêm vào những khối u nhỏ (< 3 cm) bằng ethanol tuyệt đối có thể kéo dài thời gian sống và là cách điều trị thay thế hợp lý cho phẫu thuật cắt bỏ ở một số bệnh nhân.

Theo dõi sự phát triển của carcinoma tế bào gan nên được xem xét và tiến hành ở những vùng dịch HBV với xét nghiệm alpha tetoprotein và siêu âm đều đặn (mỗi 6 tháng). Ở Mỹ thử nghiệm với sự giám sát là lẻ tẻ và lợi ích không chắc chắn.


Bài xem nhiều nhất

Viêm gan virus (chẩn đoán và điều trị)

Ở những người tổn thương miễn dịch nên cân nhắc chẩn đoán phân biệt viêm gan với nhiễm cytomegalovirus, Epstein Barr virus, và herpes simplex vẫn còn những tác nhân chưa được xác định để giải thích cho phần trăm nhỏ các trường hợp có biểu hiện viêm gan virus cấp tính.

Viêm túi mật cấp (chẩn đoán và điều trị)

Cơn cấp thường được thúc đẩy bởi một bữa ăn quá no hoặc quá nhiều chất béo và được đặc trưng bằng sự xuất hiện tương đối đột ngột của đau bụng liên tục và dữ dội, khu trú ở vùng thượng vịì hoặc hạ sườn phải.

Viêm gan do rượu (chẩn đoán và điều trị)

Sinh thiết gan thường là để chẩn đoán và chỉ ra sự thâm nhiễm PMN, mỡ ở mạch máu lớn với hoại tử gan, và các thể Mallory (hyalin cồn). Xơ gan dạng nốt nhỏ có thể có.

Viêm tụy cấp (chẩn đoán và điều trị)

Đau bụng vùng thượng vị, thường khởi phát đột ngột, và đau liên tục, dữ dội, nặng hơn khi đi lại, nằm ngửa và giảm khi ngồi ngả người ra phía trước. Đau thường lan ra sau lưng nhưng có thể lan sang bên phải hoặc bên trái.

Xơ gan (chẩn đoán và điều trị)

Xơ gan nốt to được đặc trưng bằng những nốt lớn có thể đo được vài centimet đường kính và có thể có các tĩnh mạch ở trung tâm. Thể này ít nhiều phù hợp với xơ gan sau hoại tử nhưng không nhãt thiết là tiếp sau những giai đoạn của hoại tử lớn và xẹp chất đệm.

Khối u gan lành tính (chẩn đoán và điều trị)

Trong một số trường hợp được lựa chọn, cắt qua nội soi có thể là dễ dàng. Sự thoái lui của những khối u gan lành tính có thể xảy ra sau khi ngừng các viên uống tránh thai.

Tắc tĩnh mạch gan (hội chứng Budd Chiari) (chẩn đoán và điều trị)

 Những biểu hiện lâm sàng có thể bao gồm gan to đau, nhạy cảm đau; hoàng đảm; lách to; và cổ trướng. Khi bệnh tiến triển, giãn tĩnh mạch chảy máu và hôn mê gan có thể là rõ rệt.

Carcinoma tụy và vùng quanh bóng Vater (chẩn đoán và điều trị)

Với carcinoma đầu tụy, chụp phim hàng loạt đường tiêu hóa trên có thể cho thấy có sự giãn rộng của quai tá tràng, những bất thường niêm mạc của tá tràng, thay đổi từ phù nề đến xâm lấn hoặc loét, hoặc co thắt, hoặc chèn ép.

Chẩn đoán hoàng đản (đảm, vàng da)

Mệt mỏi hoặc đau bụng, lưng có thể gặp trong cơn huyết tán cấp. Màu sắc của phân và nước tiểu bình thường, có hoàng đảm nhẹ, tăng bilirubin gián tiếp trong máu nhưng không có bilirubin trong nước tiểu và lách to, trừ trường hợp thiếu máu hồng cầu liềm.

Viêm tụy mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Những đợt tái phát hoặc dai dẳng của đau vùng thượng vị và phần tư bụng trên bên trái lan tới vùng lưng trên bên trái là điển hình. Chán ăn, buồn nôn, nôn, táo bón, đầy hơi và sụt cân là thường gặp.

Sỏi mật (chẩn đoán và điều trị)

Sỏi mật được xếp loại theo thành phần hóa học như sỏi có chứa chủ yếu cholesterol và chứa chủ yếu calci bilirubinat. Loại sau ít hơn 20% sỏi ở châu Âu hoặc Mỹ nhưng chiếm 30- 40% sỏi ở Nhật Bản.

Gan nhiễm mỡ và viêm gan mỡ không do rượu (chẩn đoán và điều trị)

Thọái hóa mỡ vi mạch gặp trong hội chứng Reye, ngộ độc acid valproic, liều cao tetracyclin, hoặc gan nhiễm mỡ cấp tính lúc có thai và có thể dẫn đến suy gan tối cấp.

Bệnh sỏi ống mật chủ và viêm đường mật

Có bilirubin niệu và tăng bilirubin huyết thanh nếu ống mật chủ bị tắc nghẽn; mức độ thường dao động. Tăng phosphatase kiềm huyết thanh đặc biệt gợi ý tới hoàng đảm có tắc nghẽn.

Chít hẹp đường mật (chẩn đoán và điều trị)

Viêm đường mật là biến chứng phổ biến nhất của chít hẹp. Điển hình là bệnh nhân trải qua những giai đoạn có đau, sốt, ớn lạnh, và hoàng đảm trong vòng một vài tuần tới vài tháng sau cắt bỏ túi mật.

Carcinoma đường mật (chẩn đoán và điều trị)

Hoàng đảm tăng lên là dấu hiệu phổ biến nhất và thường là dấu hiệu đầu tiên của tắc nghẽn hệ thống đường mật ngoài gan. Đau thường có ở phần tư trên bên phải của bụng và lan ra sau lưng. Chán ăn và sụt cân là thường gặp và hay đi kèm với sốt, ớn lạnh.

Viêm ống mật xơ hóa nguyên phát (chẩn đoán và điều trị)

Về mặt lâm sàng, bệnh biểu hiện như hoàng đảm tắc nghẽn tăng dần, thường kèm theo khó chịu, ngứa, chán ăn và tiêu hóa kém. Một số bệnh nhân được chẩn đoán trong giai đoạn tiền triệu chứng vì có tăng phosphatase kiềm.

Xơ gan mật tiên phát (chẩn đoán và điều trị)

Nhiều bệnh nhân không có triệu chứng trong nhiều năm và thời gian sống trung bình sau khi các triệu chứng xuất hiện là 10 năm. Khởi phát bệnh âm thầm và được báo trước bằng biểu hiện ngứa.

Bệnh gan nhiễm độc và do thuốc

Ảnh hưởng trực tiếp của thuốc trên các cơ chế tiết mật như azathioprin, estrogen, hoặc các steroid đồng hóa chứa nhóm alkyl hoặc ethinyl ở carbon 17, mercaptopurin, methyltestosteron và cyclosporin.

Carcinoma tế bào gan (chẩn đoán và điều trị)

Về mặt mô học, carcinoma tế bào gan được hình thành từ các dây hoặc dải tế bào đại khái giống nhu mô gan. Những mạch máu như tĩnh mạch cửa hoặc gan thường bị ảnh hưởng do khối u.

Suy gan tối cấp (chẩn đoán và điều trị)

Trong suy gan tối cấp do viêm gan, hoại tử lan rộng những vùng gan lớn gây bệnh cảnh mô bệnh học điển hình của teo gan. Nhiễm độc huyết, các triệu chứng dạ dày ruột và hiện tượng xuất huyết là thường gặp.

Nhiễm sắc tố sắt mô (chẩn đoán và điều trị)

Những trường hợp dị hợp tử sẽ không xuất hiện nhưng biến chứng của quá tải sắt khi không có các bệnh kèm theo như viêm gan virus.

Tăng áp lực tĩnh mạch cửa không do xơ gan (chẩn đoán và điều trị)

Các xét nghiệm gan thường là bình thường nhưng có thể có những dấu hiệu của tăng năng lách. Chụp mạch hệ cửa sẽ xác nhận, như khi sinh thiết bằng kim ở gan, nhất là bệnh sán máng và xơ hóa tĩnh mạch cửa trong gan không do xơ gan.

Bệnh Wilson (chẩn đoán và điều trị)

Nhận biết bệnh là quan trọng vì bệnh có thể giống như ở viêm gan mạn tính, các rối loạn tâm thần hoặc bệnh thần kinh. Bệnh có thể hồi phục và điều trị thích hợp sẽ ngăn ngừa được tổn thương gan và thần kinh.

Viêm gan mãn tính (chẩn đoán và điều trị)

Ớ những bệnh nhân viêm gan tự miễn, prednison dùng cùng với azathioprin hoặc không được cho là cải thiện các triệu chứng, làm giảm bilirubin, aminotransferase, gamma globulin huyết thanh và làm giảm viêm gan.

Áp xe gan sinh mủ (chẩn đoán và điều trị)

Biểu hiện thường là âm thầm. Sốt hầu như luôn có và có thể xảy ra trước các triệu chứng hoặc dấu hiệu khác. Đau có thể là triệu chứng nổi bật và khu trú ở hạ sườn phải hoặc thượng vị. Họàng đảm, nhạy cảm đau ở bụng trên bên phải và sốt dao động hoặc không dao động là các dấu hiệu thực thể chủ yếu.

Xem theo danh mục