Nhiễm sắc tố sắt mô (chẩn đoán và điều trị)


Ngày: 5 - 1 - 2016

Những trường hợp dị hợp tử sẽ không xuất hiện nhưng biến chứng của quá tải sắt khi không có các bệnh kèm theo như viêm gan virus.

Nhiễm sắc tố sắt mô là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, nhiều trường hợp liên kết với HLA- A3 và HLA- B14 hoặc HLA- B7. Gần đây, sự khiếm khuyết về di truyền chủ yếu được xác định như đột biến trong gen mới phát hiện có tên là HFE trên nhiễm sắc thể số 6. Sự thay đổi dẫn đến thay thế tyrosin cho cystein ở vị trí 282 (C282) ở vùng gen tạo ra mối liên quan đến sự tương tác với P2- microglobulin ảnh hưởng đến sự bộc lộ trên bề mặt tế bào nhưng chức năng chính xác của protein này còn chưa rõ. Khoảng 90% người bị nhiễm sắc tố sắt mô được xác định rõ là đồng hợp tử với HFE. Đột biến gen thứ hai dẫn đến thay thế acid aspartic cho histidin ở vị trí 63 của protein này có thể góp phần vào sự phát triển của bệnh nhiễm sắc tố sắt mô ở số lượng nhỏ bệnh nhân. Bệnh được đặc trưng bằng tăng tích tụ sắt như hemosiderin trong gan, tụy, tim, tuyến thượng thận, tinh hoàn, tuyến yên và thận. Cuối cùng bệnh nhân có thể bị thiểu năng gan, tụy, tim, và nhược năng tuyến sinh dục. Bệnh hiếm khi được phát hiện trước tuổi 50.

Những trường hợp dị hợp tử sẽ không xuất hiện nhưng biến chứng của quá tải sắt khi không có các bệnh kèm theo như viêm gan virus.

Các biểu hiện lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng bao gồm bệnh khớp, gan to và bằng chứng của thiểu năng gan (dấu hiệu muộn), đôi khi có tăng sắc tố da (sự kết hợp màu xám đá do sắt và màu nâu do melanin, đôi khi dẫn đến màu đồng); tim to có kèm theo hoặc không kèm theo suy tim hoặc khiếm khuyết dẫn truyền, đái tháo đựờng với các biến chứng của nó và bất lực ở nam giới. Chảy máu do giãn tĩnh mạch thực quản có thể xảy ra, và ở những bệnh nhân xơ gan sẽ có 15- 20% bị carcinoma tế bào gan. Bệnh nên được xem xét ở những bệnh nhân có tiền sử gia đình hoặc những bất thường nhẹ về xét nghiệm chức năng gan không giải thích được. Biến thể của bệnh ở những bệnh nhân quanh tuổi 20 được đặc trưng bằng rối loạn hoạt động của tim, nhược năng sinh dục - nhược năng hướng sinh dục và tỷ lệ tử vong cao, không kèm theo đột biến C282Y.

Các dấu hiệu cận lâm sàng bao gồm các xét nghiệm chức năng gan có bất thường nhẹ (AST, phosphatase kiềm), sắt huyết tương tăng trên 50% độ bão hòa của transterrin, và tăng ferritin huyết thanh (mặc dù ferritin bình thường không loại trừ chẩn đoán). CT scan và MRI có thể cho thấy những thay đổi nhất thời với quá tải sắt của gan nhưng những kỹ thuật này không đủ nhạy để sàng lọc cho những người không có triệu chứng. Sinh thiết gan điển hình cho thấy sự lắng đọng quá mức của sắt trong các tế bào gan, và thường trong các ống mật, thành mạch và mô chống đỡ. Chẩn đoán xác định dựa vào chỉ số sắt gan trên mẫu sinh thiết gan (lượng sắt trong gan/ số gam gan chuyển thành micromole và chia cho tuổi của bệnh nhân). Khi không có quá tải sắt thứ phát do huyết tán nặng thì chỉ số sắt gan > 1,9 sẽ gợi ý bệnh nhiễm sắc tố sắt mô.

Điều trị

Chẩn đoán và điều trị sớm trong giai đoạn tiền xơ gan của bệnh nhiễm sắc tố sắt mô là vô cùng quan trọng. Điều trị bao gồm bắt đầu bằng chích máu tĩnh mạch hàng tuần 500 ml (khoảng 250 mg sắt), liên tục trong 2- 3 năm để loại bỏ sắt dự trữ. Kỹ thuật này cần được theo dõi dựa vào hematocrit và xác định rõ sắt huyết thanh. Khi đã loại được sắt dự trữ, cần tiếp tục duy trì chích máu tĩnh mạch (sau mỗi 2- 4 tháng). Tác nhân tạo chelat deferoxamin dùng đường tĩnh mạch hoặc dưới da với liều 40- 50 mg/kg/ngày trong suốt 12 giờ có thể huy động được 30 mg sắt mỗi ngày. Thuốc được chỉ định cho những bệnh nhân nhiễm sắc tố sắt mô và thiếu máu hoặc quá tải sắt thứ phát do bệnh thiếu máu vùng biển không dung nạp liệu pháp chích máu tĩnh mạch. Tuy nhiên, cách điều trị này đau và không phải lúc nào cũng thiết thực. Những biến chứng của nhiễm sắc tố sắt mô như bệnh khớp, đái tháo đường, bệnh tim, tăng áp cửa và nhược năng tuyến yên có thể cần phải điều trị.

Diễn biến của bệnh có chiều hướng tốt nhờ liệu pháp rút máu tĩnh mạch. Ở những bệnh nhân tiền xơ gan, có thể dự phòng được xơ gan. Thiếu hụt dẫn truyền tim và yêu cầu insulin được cải thiện với điều trị. Ở nhứng bệnh nhân xơ gan, giãn tĩnh mạch có thể hồi phục và nguy cơ chảy máu giảm. Tuy nhiên, những bệnh nhân xơ gan phải được theo dõi sự phát triển carcinoma tế bào gan. Ghép gan cho xơ gan tiến triển do bệnh nhiễm sắc tố sắt mô có tỷ lệ tử vong thấp hơn những loại bệnh gan khác bởi vì những biến chứng tim. Những thành viên trong gia đình cần được sàng lọc bằng các xểt nghiệm sắt huyết thanh và khi có gen HFE ở đầu hệ. Sàng lọc tất cả nam giới da trắng trên 30 tuổi bằng đánh giá độ bão hòa transferrin đã được khuyến cáo.


Bài xem nhiều nhất

Viêm gan virus (chẩn đoán và điều trị)

Ở những người tổn thương miễn dịch nên cân nhắc chẩn đoán phân biệt viêm gan với nhiễm cytomegalovirus, Epstein Barr virus, và herpes simplex vẫn còn những tác nhân chưa được xác định để giải thích cho phần trăm nhỏ các trường hợp có biểu hiện viêm gan virus cấp tính.

Viêm túi mật cấp (chẩn đoán và điều trị)

Cơn cấp thường được thúc đẩy bởi một bữa ăn quá no hoặc quá nhiều chất béo và được đặc trưng bằng sự xuất hiện tương đối đột ngột của đau bụng liên tục và dữ dội, khu trú ở vùng thượng vịì hoặc hạ sườn phải.

Viêm gan do rượu (chẩn đoán và điều trị)

Sinh thiết gan thường là để chẩn đoán và chỉ ra sự thâm nhiễm PMN, mỡ ở mạch máu lớn với hoại tử gan, và các thể Mallory (hyalin cồn). Xơ gan dạng nốt nhỏ có thể có.

Viêm tụy mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Những đợt tái phát hoặc dai dẳng của đau vùng thượng vị và phần tư bụng trên bên trái lan tới vùng lưng trên bên trái là điển hình. Chán ăn, buồn nôn, nôn, táo bón, đầy hơi và sụt cân là thường gặp.

Xơ gan (chẩn đoán và điều trị)

Xơ gan nốt to được đặc trưng bằng những nốt lớn có thể đo được vài centimet đường kính và có thể có các tĩnh mạch ở trung tâm. Thể này ít nhiều phù hợp với xơ gan sau hoại tử nhưng không nhãt thiết là tiếp sau những giai đoạn của hoại tử lớn và xẹp chất đệm.

Khối u gan lành tính (chẩn đoán và điều trị)

Trong một số trường hợp được lựa chọn, cắt qua nội soi có thể là dễ dàng. Sự thoái lui của những khối u gan lành tính có thể xảy ra sau khi ngừng các viên uống tránh thai.

Viêm tụy cấp (chẩn đoán và điều trị)

Đau bụng vùng thượng vị, thường khởi phát đột ngột, và đau liên tục, dữ dội, nặng hơn khi đi lại, nằm ngửa và giảm khi ngồi ngả người ra phía trước. Đau thường lan ra sau lưng nhưng có thể lan sang bên phải hoặc bên trái.

Tắc tĩnh mạch gan (hội chứng Budd Chiari) (chẩn đoán và điều trị)

 Những biểu hiện lâm sàng có thể bao gồm gan to đau, nhạy cảm đau; hoàng đảm; lách to; và cổ trướng. Khi bệnh tiến triển, giãn tĩnh mạch chảy máu và hôn mê gan có thể là rõ rệt.

Chẩn đoán hoàng đản (đảm, vàng da)

Mệt mỏi hoặc đau bụng, lưng có thể gặp trong cơn huyết tán cấp. Màu sắc của phân và nước tiểu bình thường, có hoàng đảm nhẹ, tăng bilirubin gián tiếp trong máu nhưng không có bilirubin trong nước tiểu và lách to, trừ trường hợp thiếu máu hồng cầu liềm.

Carcinoma tụy và vùng quanh bóng Vater (chẩn đoán và điều trị)

Với carcinoma đầu tụy, chụp phim hàng loạt đường tiêu hóa trên có thể cho thấy có sự giãn rộng của quai tá tràng, những bất thường niêm mạc của tá tràng, thay đổi từ phù nề đến xâm lấn hoặc loét, hoặc co thắt, hoặc chèn ép.

Sỏi mật (chẩn đoán và điều trị)

Sỏi mật được xếp loại theo thành phần hóa học như sỏi có chứa chủ yếu cholesterol và chứa chủ yếu calci bilirubinat. Loại sau ít hơn 20% sỏi ở châu Âu hoặc Mỹ nhưng chiếm 30- 40% sỏi ở Nhật Bản.

Gan nhiễm mỡ và viêm gan mỡ không do rượu (chẩn đoán và điều trị)

Thọái hóa mỡ vi mạch gặp trong hội chứng Reye, ngộ độc acid valproic, liều cao tetracyclin, hoặc gan nhiễm mỡ cấp tính lúc có thai và có thể dẫn đến suy gan tối cấp.

Bệnh sỏi ống mật chủ và viêm đường mật

Có bilirubin niệu và tăng bilirubin huyết thanh nếu ống mật chủ bị tắc nghẽn; mức độ thường dao động. Tăng phosphatase kiềm huyết thanh đặc biệt gợi ý tới hoàng đảm có tắc nghẽn.

Xơ gan mật tiên phát (chẩn đoán và điều trị)

Nhiều bệnh nhân không có triệu chứng trong nhiều năm và thời gian sống trung bình sau khi các triệu chứng xuất hiện là 10 năm. Khởi phát bệnh âm thầm và được báo trước bằng biểu hiện ngứa.

Carcinoma đường mật (chẩn đoán và điều trị)

Hoàng đảm tăng lên là dấu hiệu phổ biến nhất và thường là dấu hiệu đầu tiên của tắc nghẽn hệ thống đường mật ngoài gan. Đau thường có ở phần tư trên bên phải của bụng và lan ra sau lưng. Chán ăn và sụt cân là thường gặp và hay đi kèm với sốt, ớn lạnh.

Xem theo danh mục