Chế độ ăn hạn chế chất dinh dưỡng trị liệu

Ngày: 25 - 2 - 2016

Chế độ ăn 1000 mg muối cần hạn chế thêm nữa những thức ăn thường ngày. Hiện nay có sẵn các thức ăn có natri thấp đặc biệt để giúp cho chế độ ăn như vậy.


Những chế độ ăn trị liệu đặc hiệu cơ thể được lập ra để tạo điều kiện cho xử trí y học các bệnh thường gặp nhất. Trong hầu hết các trường hợp, tư vấn với thầy thuốc chuyên khoa dinh dưỡng là cần thiết để lập ra và thực hiện những thay đổi chính trong chế độ ăn. Người thầy thuốc cần làm quen với những chỉ định cho chế độ ăn đặc hiệu và thành phần cơ bản của chế độ ăn để tạo thuận lợi cho việc tham khảo và tăng tối đa sự thực hiện của bệnh nhân. Chế độ ăn trị liệu là mọi quá trình khó thực hiện và không phải tất cả bệnh nhân đều có thể hợp tác đầy đủ. Đề nghị bệnh nhân ghi lại chế độ ăn trong 3 - 5 ngày có thể giúp hiểu được sự vận chuyển ruột của bệnh nhân.

Những chế độ ăn trị liệu có thể được chia thành 3 nhóm: 1. chế độ ăn thay đổi độ đặc của thức ăn; 2. chế độ ăn hạn chế hoặc thay đổi thành phần thức ăn; và 3. chế độ ăn bổ sung thành phần thức ăn.

Chế độ ăn có thể được dự tính để hạn chế (hoặc loại trừ) bất kỳ chất dinh dưỡng hoặc thành phần thức ăn nào. Chế độ ăn hạn chế được sử dụng phổ biến nhất là chế độ ăn hạn chế natri, chất béo và protein. Những chế độ ăn hạn chế khác bao gồm hạn chế gluten trong bệnh sprue, giảm kali và phospho trong thiểu năng thận, và nhiều chế độ ăn loại trừ trong dị ứng thức ăn.

Chế độ ăn hạn chế natri

Chế độ ăn ít natri được sử dụng trong xử trí tăng huyết áp và trong các tình trạng mà giữ natri và phù là biểu hiện nổi trội, đặc biệt là suy tim sung huyết, bệnh gan mạn tính, và suy thận mạn tính. Hạn chế natri có lợi hoặc không với liệu pháp lợi niệu. Khi thực hiện chế độ ăn này kết hợp với các thuốc lợi niệu thì hạn chế natri cho phép dùng liều thuốc lợi niệu thấp hơn và có thể ngăn ngừa được các tác dụng phụ. Bài tiết kali, đặc biệt liên quan trực tiếp tới sự phân bố natri ở ống thận xa và hạn chế natri sẽ làm tăng mất kali liên quan đến thuốc lợi niệu.

Chế độ ăn điển hình của người Mỹ có chứa tối thiểu 4 - 6g (175 - 260 mEq) natri/ngày. Chế độ ăn không bổ sung muối chứa khoảng 3g natri (132 mEq)/ ngày. Có thể đạt được hạn chế hơn nữa bằng chế độ ăn 2g hoặc 1g natri một ngày. Những chế độ ăn hạn chế quá nhiều natri khó có thể được bệnh nhân chấp nhận và ít được áp dụng.

Natri trong chế độ ăn bao gồm natri có tự nhiên trong thức ăn, natri bổ sung trong quá trình chế biến thực phẩm và natri do người tiêu dùng bổ sung trong quá trình nấu và ăn. Mỗi loại chiếm khoảng 1/3 lượng natri trong chế độ ăn hiện hành. Chế độ ăn cho phép dùng 2000 mg natri/ngày là dễ nhất để dự tính và thực hiện. Những chế độ ăn như vậy nhìn chung đã loại trừ muối bổ sung. Hầu hết thực phẩm chế biễn sẵn, và một số thức ăn đặc biệt sẽ có lượng natri cao. Bệnh nhân áp dụng chế độ ăn này trong vòng 2 - 3 tháng sẽ mất cảm giác thèm những thức ăn có vị mặn và thường có thể tiếp tục hạn chế muối đưa vào một cách vô hạn định. Nhiều bệnh nhân tăng huyết áp nhẹ sẽ giảm huyết áp rõ rệt (khoảng 5 mmHg ở huyết áp tâm trương) với mức hạn chế muối này.

Những bệnh nhân khác cần phải hạn chế muối nữa (khoảng 1000 mg/ ngày) để làm giảm huyết áp.

Chế độ ăn 1000 mg muối cần hạn chế thêm nữa những thức ăn thường ngày. Hiện nay có sẵn các thức ăn có natri thấp đặc biệt để giúp cho chế độ ăn như vậy. Những chế độ ăn này khó thực hiện và nhìn chung là dành cho những bệnh nhân nằm viện và bệnh nhân ngoại trú vận chuyển ruột nhanh thường nhất là bệnh nhân bị bệnh gan hoặc cổ trướng nặng.

Chế độ ăn hạn chế mỡ

Chế độ ăn hạn chế mỡ truyền thống được sử dụng trong điều trị các hội chứng kém hấp thụ mỡ. Những chế độ ăn này sẽ cải thiện các triệu chứng ỉa chảy với phân mỡ không phụ thuộc vào những bất thường về sinh lý nguyên phát bằng cách hạn chế lượng acid béo đi đến đại tràng.

Mức độ cần thiết hạn chế mỡ để kiểm soát các triệu chứng phải được cụ thể hóa. Những bệnh nhân kém hấp thu nặng có thể hạn chế tới 40 - 60 g mỡ mỗi ngày. Chế độ ăn từ 60 - 80g mỡ mỗi ngày có thể áp dụng cho những bệnh nhân có sự bất thường ít nghiêm trọng hon.

Nhìn chung, chế độ ăn hạn chế mỡ đòi hỏi luộc, nướng hoặc thịt và cá luộc, loại bỏ da của cá và gia cầm, và dùng những thức ăn này như là nguồn protein chính; sử dụng các sản phẩm sữa gầy; tránh món tráng miệng, nước sốt thịt và các loại nước sốt khác.

Chế độ ăn ít cholesterol và ít chất béo bão hòa

Chế độ ăn hạn chế chất béo mà đặc biệt là hạn chế chất béo bão hòa và cholesterol từ thức ăn là trụ cột của điều trị bằng ăn uống tăng lipid huyết. Những chế độ ăn tương tự cũng được khuyên dùng trong đái tháo đường và để ngăn ngừa bệnh mạch vành. Những khuyến cáo hiện nay để ngăn ngừa ung thư bằng việc thay đổi chế độ ăn cũng bao gồm cả hạn chế chất béo.

Mục tiêu của những chế độ ăn này là hạn chế mỡ toàn phần tới 30% calo và đạt được trọng lượng cơ thể bình thường bằng cách hạn chế calo. Chất béo bão hòa bị hạn chế tới 10% calo và cholesterol trong thức ăn là 300 mg/ ngày. Chất béo bão hòa có thể được thay thế hoặc bằng các carbonhydrat phức hợp hoặc nếu cân bằng năng lượng cho phép thì bằng những chất béo đơn chưa bão hòa. Chất béo bão hòa, chất béo toàn phần và cholesterol từ chế độ ăn có thể được hạn chế thêm nữa, nhưng các nghiên cứu gợi ý rằng nếu hạn chế thêm nữa thì sẽ có ít hơn nữa ưu điểm trong sự thay đổi toàn bộ lipid huyết thanh.

Chế độ ăn hạn chế protein

Chế độ ăn hạn chế protein phổ biến nhất được áp dụng cho những bệnh nhân bị bệnh não - gan do bệnh gan mạn tính và những bệnh nhân suy thận để cải thiện diễn tiến sớm của bệnh và để giảm các triệu chứng tăng urê huyết trong trường hợp bệnh nặng hơn. Bệnh nhân bị rối loạn chuyển hóa acid amin bẩm sinh và những bất thường khác dẫn tới tăng amoniac huyết cũng cần hạn chế protein hoặc các acid amin đặc hiệu.

Hạn chế protein là để hạn chế sự tạo ra các chất thải nitơ. Năng lượng đưa vào phải đủ để tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả protein từ thức ăn. Protein phải có giá trị sinh học cao và phải cung cấp đủ lượng để đạt được nhu cầu tối thiểu. Với hầu hết bệnh nhân, chế độ ăn cần chứa ít nhất 0,6g protein/kg/ngày. Những bệnh nhân bị bệnh não không đáp ứng với mức độ hạn chế này thì không thể đáp ứng với mức hạn chế thêm nữa.


Bài xem nhiều nhất

Nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể

Nhu cầu dinh dưỡng không chỉ thay đổi ở từng cá thể mà còn thay đổi từng ngày và từng đối tượng. Chúng cũng khác nhau theo tuổi, giới, kích thước cơ thể, trong quá trình mang thai và cho con bú.

Nhu cầu dinh dưỡng của bệnh nhân

Những bệnh nhân có sự hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa cần nhận đủ các vitamin và chất khoáng tùy theo lượng khuyên dùng hàng ngày. Hầu hết dung dịch đường tiêu hóa trộn sẵn đều cung cấp đầy đủ các vitamin, các khoáng chất cũng như lượng calo đầy đủ.

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Chất béo đường tĩnh mạch cũng có thể được dùng cho những bệnh nhân nhận hỗ trợ dinh dưỡng đường tĩnh mạch trung tâm.

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Nên khám thực thể tập trung vào mặt dinh dưỡng trên từng bệnh nhân có nguy cơ về các vấn đề dinh dưỡng. Khám nhấn mạnh vào sự mỏi cơ, dự trữ mỡ, kích thước cơ thể, và các dấu hiệu của sự thiếu hụt vi chất.

Suy dinh dưỡng protein năng lượng (chẩn đoán và điều trị)

Suy dinh dưỡng protein năng lượng xảy ra như là hậu quả của sự thiếu hụt tương đối hoặc tuyệt đối năng lượng và protein. Bệnh có thể là nguyên phát do ăn không đủ hoặc thứ phát do hậu quả của các bệnh khác.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin C (tan trong nước)

Biểu hiện sớm của thiếu hụt vitamin C là không đặc hiệu và bao gồm mệt, yếu. Ở những giai đoạn tiến triển hơn, biểu hiện điển hình của bệnh Scorbut (thiếu vitamin C) xuất hiện.

Hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh nhân

Chú ý tới sở thích của bệnh nhân, thời gian của những bữa ăn, các thủ thuật chẩn đoán, sử dụng thuốc, và việc sử dụng các thức ăn do gia đình và bạn bè mang tới bệnh viện thường có thể làm tăng việc ăn uống qua đường miệng.

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Các biến chứng chuyển hóa của hỗ trợ dinh dưỡng đường tĩnh mạch trung tâm xảy ra ở trên 50% số bệnh nhân. Hầu hết là nhẹ và dễ xử trí, hiếm khi cần phải ngừng hỗ trợ dinh dưỡng.

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Các dung dịch chứa các protein thủy phân hoặc các acid amin kết tinh có thành phần chất béo không đáng kể được gọi là dung dịch cơ bản vì các chất dinh dưỡng đa lượng được cung cấp ở dạng “cơ bản” nhất của chúng.

Chán ăn tâm thần (chẩn đoán và điều trị)

Nguyên nhân của chán ăn tâm thần còn chưa rõ. Mặc dù, có nhiều bất thường về nội tiết tồn tại ở những bệnh nhân này, nhưng hầu hết các tác giả đều cho rằng chúng chỉ là thứ phát do suy dinh dưỡng và không phải là những rối loạn tiên phát.

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình hỗ trợ dinh dưỡng

Những bệnh nhân có cân bằng nitơ dương tính có thể được tiếp tục chế độ hiện tại của họ, những bệnh nhân có cân bằng nitơ âm tính thì nên tăng vừa phải lượng calo và protein đưa vào, sau đó đánh giá lại.

Lời khuyên về ăn uống, tương tác chất dinh dưỡng và thuốc

Lượng thức ăn tính như một khẩu phần được đưa ra ở tên dưới. Nếu bạn cần ăn phần lớn hơn thì tính hơn một khẩu phần. Ví dụ, suất ăn tối bằng mỳ ý có thể tính là 2 - 3 khẩu phần tinh bột.

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Các biến chứng chuyển hóa trong hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa là hay gặp nhưng trong hầu hết các trường hợp là dễ xử trí.

Béo phì (chẩn đoán và điều trị)

Béo phì được định nghĩa như là tình trạng có quá nhiều mô mỡ. Sự xác định chính xác mô mỡ cần những kỹ thuật tinh vi nhưng lại chưa phổ biến trong thực tiễn lâm sàng. Khám thực thể thường là đủ để phát hiện tình trạng quá nhiều mô mỡ.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin A (retinol) (tan trong dầu)

Thiếu hụt vitamin A là một trong những hội chứng thiếu hụt vitamin phổ biến nhất, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Ở những vùng này, thiếu vitamin A là nguyên nhân phổ biến nhất gây mù.

Ăn vô độ tâm thần (chẩn đoán và điều trị)

Một số bệnh nhân bị chứng ăn vô độ cũng có dạng chán ần tâm thần ẩn với sụt cân rõ rệt và vô kinh. Khía cạnh gia đình và tâm lý nhìn chung tương tự như đối với những bệnh nhân chán ăn tâm thần.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin Pyridoxin (B6) (tan trong nước)

Thiếu hụt vitamin B6 thường xảy ra nhất như là hậu quả của sự tương tác của các thuốc, đặc biệt là isoniazid, cycloserin, penicillamin, và các thuốc uống tránh thai hoặc ở người nghiện rượu.

Chế độ ăn hạn chế chất dinh dưỡng trị liệu

Chế độ ăn 1000 mg muối cần hạn chế thêm nữa những thức ăn thường ngày. Hiện nay có sẵn các thức ăn có natri thấp đặc biệt để giúp cho chế độ ăn như vậy.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin E (tan trong dầu)

Thiếu hụt vitamin E trên lâm sàng phổ biến nhất là do kém hấp thu nặng, không có betalipoprotein huyết di truyền hoặc ở trẻ em là bệnh gan ứ mật mạn tính, tịt đường mật hoặc xơ hóa nang.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin Niacin (tan trong nước)

Về mặt tiền sử, thiếu hụt niacin xảy ra ở những nơi khi mà ngô (tương đối thiếu cả tryptophan và niacin) là nguồn năng lượng chính. Hiện tại, thiếu hụt niacin phổ biến hơn do nghiện rượu và sự tương tác giữa thuốc và chất dinh dưỡng.

Chế độ ăn bổ xung dinh dưỡng trị liệu

Chất xơ trong chế độ ăn là một nhóm nhiều loại thực vật khác nhau và hệ tiêu hóa của người không tiêu hóa được. Chế độ ăn điển hình của người Mỹ có khoảng 5 - 10g chất xơ từ thức ăn mỗi ngày.

Chế độ ăn thay đổi độ đặc của thức ăn trị liệu

Chế độ ăn lỏng cung cấp đầy đủ nước và có thể được lập ra để cung cấp đầy đủ năng lượng và protein. Các vitamin, chất khoáng, đặc biệt là acid folic, sắt và vitamin B6, có thể không đủ và nên được dùng dưới dạng các chế phẩm bổ sung.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin thiamin (B1) (tan trong nước)

Vai trò chính của thiamin là tiền chất của thiamin pyrophosphat, một coenzym cần cho một số phản ứng sinh học quan trọng, cần thiết cho quá trình oxy hóa carbonhydrat.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin Riboflavin (B2) (tan trong nước)

Riboflavin, coenzym flavin mononucleotid và flavin adenin dinucleotid, tham gia vào nhiều phản ứng oxy hóa khử khác nhau và là thành phần thiết yếu của nhiều enzym khác.