Rối loạn chuyển hóa Vitamin Niacin (tan trong nước)

Ngày: 25 - 2 - 2016

Về mặt tiền sử, thiếu hụt niacin xảy ra ở những nơi khi mà ngô (tương đối thiếu cả tryptophan và niacin) là nguồn năng lượng chính. Hiện tại, thiếu hụt niacin phổ biến hơn do nghiện rượu và sự tương tác giữa thuốc và chất dinh dưỡng.


Thiếu hụt vitamin đơn thuần ít gặp hơn là thiếu hụt nhiều vitamin củng với thiếu dinh dưỡng protein - năng lượng. Mặc dù bất kỳ nguyên nhân nào của thiếu dinh dưỡng protein - năng lượng đều có thể dẫn đến thiếu hụt đồng thời vitamin, nhưng hầu hết các trường hợp như vậy đều đi kèm với giảm hấp thu, nghiện rượu, dùng dược phẩm, thẩm phân máu, dinh dưỡng toàn bộ ngoài đường tiêu hóa, có sở thích kỳ quặc về ăn uống, hoặc có rối loạn chuyển hóa bẩm sinh.

Các hội chứng thiếu hụt vitamin thường xuất hiện từ từ. Các triệu chứng thường không đặc hiệu và khám thực thể hiếm khi giúp cho chẩn đoán sớm. Hầu hết các dấu hiệu thực thể đặc trưng xuất hiện muộn trong diễn biến của hội chứng. Những dấu hiệu thực thể đặc trưng khác như viêm lưỡi, viêm môi gặp trong thiếu hụt nhiều vitamin nhóm B. Những bất thường như vậy sẽ gợi ý là có thiếu hụt dinh dưỡng nhưng không chỉ ra được cụ thể chất nào bị thiếu.

Mặc dù là tương đối dễ trong điều chỉnh bằng chế độ ăn hỗn hợp được khuyến cáo hàng ngày, nhưng nhiều người Mỹ đã dùng các chế phẩm bổ sung vitamin có thể phổ biến hơn những hội chứng thiếu hụt, đặc biệt là hội chứng thừa vitamin A, D, B6. Những đòi hỏi về lợi ích sức khỏe rõ rệt của những chế phẩm bổ sung này, nhất là khi dùng những liều lớn đều chưa được chứng minh.

Một số vitamin có thể được dùng một cách công hiệu như thuốc. Các dẫn xuất của vitamin A được dùng để điều trị trứng cá nang, và gần đây hơn là trường hợp da nhăn nheo. Niacin có hiệu quả với tăng lipid huyết. Những rối loạn chuyển hóa vitamin bẩm sinh cũng cần những liều dược lý học các vitamin.

Niacin là thuật ngữ chung cho acid nicotinic và các dẫn xuất khác có cùng hoạt tính về dinh dưỡng. Khác với hầu hết các vitamin khác, niacin có thể được tổng hợp từ aminoacid tryptophan. Niacin là thành phần thiết yếu của các coenzym nicotinamid adenin dinucleotid (NAD) và nicotinamid adenin dinucleotid phosphat (NADP) để tham gia vào nhiều phản ứng oxy hóa khử khác nhau. Nguồn thực phẩm chính là: các thực phẩm có chứa tryptophan và nhiều loại ngũ cốc, rau, các sản phẩm sữa.

Niacin được dừng để điều trị tăng cholesterol huyết và tăng triglycerid huyết. Liều hàng ngày 3 - 6g có thể làm giảm rõ rệt mức lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) và các lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDL) cùng với tăng các lipoprotein tỷ trọng cao (HDL). Niacinamid không có tác dụng giảm lipid của acid - nicotinic.

Biểu hiện lâm sàng thiếu hụt niacin

Về mặt tiền sử, thiếu hụt niacin xảy ra ở những nơi khi mà ngô (tương đối thiếu cả tryptophan và niacin) là nguồn năng lượng chính. Hiện tại, thiếu hụt niacin phổ biến hơn do nghiện rượu và sự tương tác giữa thuốc và chất dinh dưỡng. Thiếu hụt niacin cũng xảy ra do rối loạn chuyển hóa bẩm sinh.

Cũng như với các vitamin nhóm B khác, nhưng biểu hiện sớm của thiếu hụt niacin là không đặc hiệu. Biểu hiện phổ biến lả chán ăn, yếu mệt, kích thích, đau miệng, viêm lưỡi, viêm miệng và sụt cân. Thiếu hụt nặng hơn dẫn tới tam chứng kinh điển của bệnh pellagra là viêm da, ỉa chảy, và sa sút trí tuệ. Viêm da là đối xứng và ở những vùng có tiếp xúc với ánh nắng. Tổn thương trên da sẫm màu, khô và có vẩy. Sa sút trí tuệ bắt đầu bằng mất ngủ, kích thích, lãnh đạm, và sẽ dẫn đến lú lẫn, mất trí nhớ, ảo giác và loạn tâm thần. Ỉa chảy có thể nặng và dẫn tới giảm hấp thu do teo nhung mao ở ruột. Bệnh pellagra nặng có thể dẫn tới tử vong.

Chẩn đoán thiếu hụt niacin

Trong những trường hợp nặng, chẩn đoán bệnh pellagra có thể dựa trên bệnh cảnh lâm sàng. Ở những trường hợp sớm, chẩn đoán cần có chỉ số nghi ngờ cao và những cố gắng xác định thiếu hụt niacin.

Các chất chuyển hóa của niacin, đặc biệt là N - methylnicotinamid, có thể được đo trong nước tiểu. Mức thấp sẽ gợi ý có thiếu hụt niacin nhưng cũng có thể gặp ở những bệnh nhân thiếu dinh dưỡng nói chung. Mức NAD và NADP trong huyết thanh và hồng cầu cũng thấp nhưng cũng không đặc hiệu.

Điều trị thiếu hụt niacin

Bệnh pellagra có thể được điều trị một cách có hiệu quả bằng niacin đường uống, thường dùng nicotinamid, liều từ 10 - 150 mg/ngày một cách dễ dàng.

Ngộ độc niacin

Khi dùng những liều cao niacin để điều trị tăng lipid huyết, các tác dụng phụ là thường gặp và bao gồm đỏ da (ngăn ngừa một phần bằng việc dùng aspirin 325 mg/ ngày trước khi điều trị) và kích ứng dạ dày. Tăng các mengan, tăng glucose huyết và gout là những tác dụng phụ ít gặp hơn. Mặc dù các chế phẩm niacin giải phóng chậm ít gây đỏ da, nhưng chúng lại làm tăng nguy cơ viêm gan tối cấp hơn các chế phẩm giải phóng trung bình và ít khi được khuyên dùng.


Bài xem nhiều nhất

Nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể

Nhu cầu dinh dưỡng không chỉ thay đổi ở từng cá thể mà còn thay đổi từng ngày và từng đối tượng. Chúng cũng khác nhau theo tuổi, giới, kích thước cơ thể, trong quá trình mang thai và cho con bú.

Nhu cầu dinh dưỡng của bệnh nhân

Những bệnh nhân có sự hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa cần nhận đủ các vitamin và chất khoáng tùy theo lượng khuyên dùng hàng ngày. Hầu hết dung dịch đường tiêu hóa trộn sẵn đều cung cấp đầy đủ các vitamin, các khoáng chất cũng như lượng calo đầy đủ.

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Chất béo đường tĩnh mạch cũng có thể được dùng cho những bệnh nhân nhận hỗ trợ dinh dưỡng đường tĩnh mạch trung tâm.

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Nên khám thực thể tập trung vào mặt dinh dưỡng trên từng bệnh nhân có nguy cơ về các vấn đề dinh dưỡng. Khám nhấn mạnh vào sự mỏi cơ, dự trữ mỡ, kích thước cơ thể, và các dấu hiệu của sự thiếu hụt vi chất.

Suy dinh dưỡng protein năng lượng (chẩn đoán và điều trị)

Suy dinh dưỡng protein năng lượng xảy ra như là hậu quả của sự thiếu hụt tương đối hoặc tuyệt đối năng lượng và protein. Bệnh có thể là nguyên phát do ăn không đủ hoặc thứ phát do hậu quả của các bệnh khác.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin C (tan trong nước)

Biểu hiện sớm của thiếu hụt vitamin C là không đặc hiệu và bao gồm mệt, yếu. Ở những giai đoạn tiến triển hơn, biểu hiện điển hình của bệnh Scorbut (thiếu vitamin C) xuất hiện.

Hỗ trợ dinh dưỡng cho bệnh nhân

Chú ý tới sở thích của bệnh nhân, thời gian của những bữa ăn, các thủ thuật chẩn đoán, sử dụng thuốc, và việc sử dụng các thức ăn do gia đình và bạn bè mang tới bệnh viện thường có thể làm tăng việc ăn uống qua đường miệng.

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng ngoài đường tiêu hóa

Các biến chứng chuyển hóa của hỗ trợ dinh dưỡng đường tĩnh mạch trung tâm xảy ra ở trên 50% số bệnh nhân. Hầu hết là nhẹ và dễ xử trí, hiếm khi cần phải ngừng hỗ trợ dinh dưỡng.

Các dung dịch hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Các dung dịch chứa các protein thủy phân hoặc các acid amin kết tinh có thành phần chất béo không đáng kể được gọi là dung dịch cơ bản vì các chất dinh dưỡng đa lượng được cung cấp ở dạng “cơ bản” nhất của chúng.

Chán ăn tâm thần (chẩn đoán và điều trị)

Nguyên nhân của chán ăn tâm thần còn chưa rõ. Mặc dù, có nhiều bất thường về nội tiết tồn tại ở những bệnh nhân này, nhưng hầu hết các tác giả đều cho rằng chúng chỉ là thứ phát do suy dinh dưỡng và không phải là những rối loạn tiên phát.

Theo dõi bệnh nhân trong quá trình hỗ trợ dinh dưỡng

Những bệnh nhân có cân bằng nitơ dương tính có thể được tiếp tục chế độ hiện tại của họ, những bệnh nhân có cân bằng nitơ âm tính thì nên tăng vừa phải lượng calo và protein đưa vào, sau đó đánh giá lại.

Lời khuyên về ăn uống, tương tác chất dinh dưỡng và thuốc

Lượng thức ăn tính như một khẩu phần được đưa ra ở tên dưới. Nếu bạn cần ăn phần lớn hơn thì tính hơn một khẩu phần. Ví dụ, suất ăn tối bằng mỳ ý có thể tính là 2 - 3 khẩu phần tinh bột.

Các biến chứng của hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa

Các biến chứng chuyển hóa trong hỗ trợ dinh dưỡng đường tiêu hóa là hay gặp nhưng trong hầu hết các trường hợp là dễ xử trí.

Béo phì (chẩn đoán và điều trị)

Béo phì được định nghĩa như là tình trạng có quá nhiều mô mỡ. Sự xác định chính xác mô mỡ cần những kỹ thuật tinh vi nhưng lại chưa phổ biến trong thực tiễn lâm sàng. Khám thực thể thường là đủ để phát hiện tình trạng quá nhiều mô mỡ.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin A (retinol) (tan trong dầu)

Thiếu hụt vitamin A là một trong những hội chứng thiếu hụt vitamin phổ biến nhất, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Ở những vùng này, thiếu vitamin A là nguyên nhân phổ biến nhất gây mù.

Ăn vô độ tâm thần (chẩn đoán và điều trị)

Một số bệnh nhân bị chứng ăn vô độ cũng có dạng chán ần tâm thần ẩn với sụt cân rõ rệt và vô kinh. Khía cạnh gia đình và tâm lý nhìn chung tương tự như đối với những bệnh nhân chán ăn tâm thần.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin Pyridoxin (B6) (tan trong nước)

Thiếu hụt vitamin B6 thường xảy ra nhất như là hậu quả của sự tương tác của các thuốc, đặc biệt là isoniazid, cycloserin, penicillamin, và các thuốc uống tránh thai hoặc ở người nghiện rượu.

Chế độ ăn hạn chế chất dinh dưỡng trị liệu

Chế độ ăn 1000 mg muối cần hạn chế thêm nữa những thức ăn thường ngày. Hiện nay có sẵn các thức ăn có natri thấp đặc biệt để giúp cho chế độ ăn như vậy.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin E (tan trong dầu)

Thiếu hụt vitamin E trên lâm sàng phổ biến nhất là do kém hấp thu nặng, không có betalipoprotein huyết di truyền hoặc ở trẻ em là bệnh gan ứ mật mạn tính, tịt đường mật hoặc xơ hóa nang.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin Niacin (tan trong nước)

Về mặt tiền sử, thiếu hụt niacin xảy ra ở những nơi khi mà ngô (tương đối thiếu cả tryptophan và niacin) là nguồn năng lượng chính. Hiện tại, thiếu hụt niacin phổ biến hơn do nghiện rượu và sự tương tác giữa thuốc và chất dinh dưỡng.

Chế độ ăn bổ xung dinh dưỡng trị liệu

Chất xơ trong chế độ ăn là một nhóm nhiều loại thực vật khác nhau và hệ tiêu hóa của người không tiêu hóa được. Chế độ ăn điển hình của người Mỹ có khoảng 5 - 10g chất xơ từ thức ăn mỗi ngày.

Chế độ ăn thay đổi độ đặc của thức ăn trị liệu

Chế độ ăn lỏng cung cấp đầy đủ nước và có thể được lập ra để cung cấp đầy đủ năng lượng và protein. Các vitamin, chất khoáng, đặc biệt là acid folic, sắt và vitamin B6, có thể không đủ và nên được dùng dưới dạng các chế phẩm bổ sung.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin thiamin (B1) (tan trong nước)

Vai trò chính của thiamin là tiền chất của thiamin pyrophosphat, một coenzym cần cho một số phản ứng sinh học quan trọng, cần thiết cho quá trình oxy hóa carbonhydrat.

Rối loạn chuyển hóa Vitamin Riboflavin (B2) (tan trong nước)

Riboflavin, coenzym flavin mononucleotid và flavin adenin dinucleotid, tham gia vào nhiều phản ứng oxy hóa khử khác nhau và là thành phần thiết yếu của nhiều enzym khác.