Viêm bao thanh dịch (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 2016-12-20

Viêm bao thanh dịch có thể do nhiễm khuẩn. Hai vị trí thường bị là mỏm khủyu và trước xương bánh chè. Viêm bao thanh dịch cấp ở hai vị trí này cần chọc dò để loại trừ nguyên nhân nhiễm khuẩn.


Viêm của những màng tế bào giống màng hoạt dịch trên những chỗ nổi gồ của xương có thể thứ phát sau chấn thương, nhiễm khuẩn hoặc bị bệnh lý khớp như gút, viêm khớp dạng thấp hoặc thoái khởp. Vị trí thường gặp nhất là những túi thanh dịch dưới cơ denta, mỏm khủyu, ụ ngồi, mấu chuyển lớn, túi Baker và túi thanh dịch trước xương bánh chè.

Có một số cách để phân biệt viêm bao thanh dịch với viêm khớp. Viêm bao thanh dịch so với viêm khớp thường bắt đầu đột ngột hơn và thường gây tăng cảm giác đau và sưng tại chỗ. Ví dụ trong bao thanh dịch mỏm khủyu gây ra sưng nề hình quả trứng ngỗng ở mỏm khủyu, trong khi viêm khớp khủyu gây ra sưng nề toàn bộ khớp. Tương tự, một bệnh nhân có viêm bao thanh dịch, trước xương bánh chè có một khối nề nhỏ tại đỉnh của khớp gối mà không có sưng nề của cả khớp gối. Hạn chế vận động và chủ động thường gặp trong viêm khớp hơn là trong viêm bao thanh dịch, ở bệnh nhân bị viêm bao thanh dịch mấu chuyển lớn khi cử động xoay trong của khớp háng bình thường trong khi bị viêm khớp thì hạn chế. Viêm bao thanh dịch do chấn thương đáp ứng với điều trị bằng chạy nhiệt tại chỗ, nghi ngơi, các thuốc chống viêm giảm đau không steroid và tiêm corticosteroid tại chỗ.

Viêm bao thanh dịch có thể do nhiễm khuẩn. Hai vị trí thường bị là mỏm khủyu và trước xương bánh chè. Viêm bao thanh dịch cấp ở hai vị trí này cần chọc dò để loại trừ nguyên nhân nhiễm khuẩn. Không có sốt cũng chưa loại trừ được nhiễm khuẩn và khoảng 1/3 bệnh nhân viêm bao thanh dịch mỏm khuỷu nhiễm trùng không có sốt. Chất thanh dịch, có số lượng bạch cầu trên 1000/µL thường là biểu hiện của viêm do nhiễm khuẩn, do viêm khớp dạng thấp, gút. Trong viêm bao thanh dịch nhiễm khuẩn, số lượng bạch cầu thường khá cao, trên 50.000/µL. Hầu hết các trường hợp viêm bao thanh dịch nhiễm khuẩn là do tụ cầu, nhưng chỉ 2/3 bệnh nhân có nhuộm Gram dương tính. Điều trị gồm kháng sinh, chọc hút dịch nhiều lần khi có tiết dịch nhiều. Cần cho nhập viện những bệnh nhân nghiện rượu, đái tháo đường hoặc những bệnh lý khác.

Những túi thanh dịch có thể gây ra triệu chứng khi bị vỡ, đặc biệt đối với kén Baker. Khi vỡ kén Baker có thể gây sưng, đau cẳng chân, dễ nhầm với huyết khối tĩnh mạch khoeo. Có thể phát hiện vỡ kén bằng siêu âm, chụp cộng hưởng từ hoặc chụp khớp. Hầu hết bệnh nhân không cần phải làm những thăm dò này bởi vì kén Baker đơn thuần hoặc kết hợp với tràn dịch khớp gối thường xác định được qua thăm khám thực thể. Điều quan trọng là phải loại trừ huyết khối tĩnh mạch khoeo hơn là nhận ra được kén Baker. Điều trị vỡ kén gồm nghỉ ngơi, kê cao chân, tiêm triamcinolon 20 - 40 mg vào khớp gối (ổ khớp thường thông thương với kén). Ở một số hiếm trường hợp, kén chèn ép vào các mạch máu, gây phù chân và gây ra huyết khối tĩnh mạch khoeo thực sự.


Bài mới nhất

Hoại tử xương vô khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Ban đầu, X quang thường bình thường; chụp cộng hưởng tứ, cắt lớp vi tính và đồng vị phóng xạ là những kĩ thuật thăm dò nhậy hơn

Biểu hiện thấp khớp trong ung thư (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh bạch cầu tế bào tóc có thể phối hợp với viêm các mạch máu cỡ trung bình, như bệnh viêm nút đa động mạch, Bệnh bạch cầu cấp có thể gây đau khớp

Bệnh thiểu sản xương (bệnh giòn xương)

Dạng thứ hai là thiểu sản xương muộn, trong đó gẫy xương và biến dạng xương xuất hiện sau khi đẻ. Xương dòn, dễ gãy là một tiêu chuẩn rõ ràng nhất cho chẩn đoán

Viêm khớp trong bệnh sarcoid (chẩn đoán và điều trị)

Tuy viêm khớp sarcoid thường kèm theo ban đỏ dạng nốt, song chẩn đoán lại dựa vào sự có mặt của những biểu hiện ngoài khớp khác của bệnh sarcoid

Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh (bệnh charcot)

Khi trương lực cơ bình thường và những phản xạ bảo vệ bị mất, bệnh khớp thoái hóa thứ phát đã xuất hiện, làm cho khớp trở nên yếu, to ra

Bài xem nhiều nhất

Hội chứng đường hầm cổ tay (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng này cần phải phân biệt với các hội chứng đau cổ cánh tay khác, hội chứng chèn ép thần kinh giữa vùng cẳng hoặc cánh tay, bệnh viêm một dây thần kinh

Hội chứng Sjogren (chẩn đoán và điều trị)

Viêm kết giác mạc khô do giảm tiết nước mắt, gây nên bởi sự thâm nhiễm tế bào lympho và tương bào vào các tuyến lệ. Triệu chứng gồm nóng rát, ngứa, tiết rỉ mắt và không chảy nước mắt khi khóc.

Hội chứng Reiter (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng Reiter cần phải phân biệt với viêm khớp do lậu, đặc biệt khi viêm kết mạc nhẹ hoặc bị bỏ qua, Viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp tiên phát

Bệnh co thắt Dupuytren (chẩn đoán và điều trị)

Co thắt Dupuytren có biểu hiện bằng sự dầy lên của bao cân gan tay dạng nốt hoặc giống như dây thừng ờ một hoặc hai bàn tay và thường ảnh hưởng tới các ngón thứ tư và thứ năm

Đau thắt lưng (chẩn đoán và điều trị)

Thăm khám thực thể cũng rất quan trọng, bởi vì những triệu chứng như sốt, tăng huyết áp, hạch to, có khối u ở bụng, ở khung chậu hay ở trực tràng

Viêm khớp dạng thấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm khớp dạng thấp là bệnh toàn thân có viêm mạn tính màng hoạt dịch của nhiều khâp, mà nguyên nhân chưa rõ, Bệnh có bệnh cảnh lâm sàng phong phú

Viêm quanh khớp vai (viêm dính bao khớp, khớp vai đông cứng)

Khởi phát của đau, tăng lên khi vận động khớp vai quá mức, có thể cấp tính hoặc từ từ. Đau có thể khó chịu nhất vào ban đêm và tăng lên khi nằm ngủ đè lên tay bị bệnh ở tư thế nằm nghiêng.

Những biểu hiện khớp trong nhiễm HIV (chẩn đoán và điều trị)

Viêm gân Achille hoặc viêm quanh khớp gối, như trong hội chứng Reiter cổ điển, là những dấu hiệu thường nổi bật và rất đặc trưng

Bệnh thoái khớp (hư khớp, chẩn đoán và điều trị)

Bệnh được đặc trựng bởi sự thoái hóa của sụn và phì đại xương tại các diện khớp. Biểu hiện viêm thường rất nhẹ. Những yếu tố di truyền và cơ học ít nhiều có liên quan đến có chế bệnh sinh của bệnh.

Đánh giá và chẩn đoán bệnh cơ xương khớp

Làm các thăm dò xét nghiệm để hoàn thiện việc đánh giá. Những xét nghiệm thông thường gồm tốc độ lắng máu, phản ứng tìm yếu tố dạng thấp, kháng thể kháng nhân