Nhiễm khuẩn xương và khớp do nấm: chẩn đoán và điều trị

2017-01-05 11:33 AM
Phân biệt với những ổ nhiễm khuẩn mạn tính khác dựa vào kết quả nuôi cấy dịch khớp hoặc tổ chức lấy từ ổ tổn thương. Các phản ứng huyết thanh cung cấp những bằng chứng có ích cho chẩn đoán.

Nhiễm nấm ở hệ thống xương khớp thường thứ phát sau nhiễm khuẩn ở một cơ quan khác, thông thường là phổi. Mặc dù tổn thương xương thường thấy ở đầu xương xốp, đầu các xương dài và thân đốt sống, nhưng một tổn thương nổi bật dưới dạng u hạt với các mức độ áp xe và hoại tử khác nhau lại thường không gây ra một bệnh cảnh lâm sàng đặc hiệu nào.

Phân biệt với những ổ nhiễm khuẩn mạn tính khác dựa vào kết quả nuôi cấy dịch khớp hoặc tổ chức lấy từ ổ tổn thương. Các phản ứng huyết thanh cung cấp những bằng chứng có ích cho chẩn đoán.

Bệnh nhiễm nấm coccidioides

Bệnh nhiễm nấm coccidioides ở xương và khớp thường thứ phát sau nhiễm khuẩn tiên phát ở phổi. Đau khớp kèm theo sưng nề quanh khớp, đặc biệt ở khớp gối, khớp cổ chân, đây là một biểu hiện không đặc hiệu của nhiễm nấm coccidioides toàn thể, nên được phân biệt với nhiễm khuẩn xương khớp thực sự. Tổn thương xương thông thường xuất hiện ở xương xốp cột sống hoặc gần đầu các xương dài tại những điểm bám gân. Những tổn thương này ban đầu thường có dạng tiêu xương và do vậy có thể nhầm vớí khối u di căn hoặc đa u tủy xương.

Chẩn đoán chính xác dựa vào tìm thấy nấm coccidioides trong ổ tổn thương hoặc xét nghiệm tế bào học qua sinh thiết mở. Tăng hiệu giá những kháng thể cố định bổ thể cũng là những bằng chứng nói lên tính chất lan toả của bệnh.

Itraconazol 200 mg, hai lần mỗi ngày, trong 6 - 12 tháng trở thành phác đồ được điều trị bệnh nhiễm khuẩn xương khớp do coccidioides. Trong trường hợp nhiễm khuẩn mạn tính, có thể đòi hỏi phẫu thuật cắt bỏ tổ chức xương và phần mềm bị nhiễm khuẩn; cắt cụt chi chỉ là một giải pháp đối với những nhiễm khuẩn tiến triển khó điều trị. Bất động khớp bằng bó bột và tránh cho khớp phải chịu tải là những biện pháp có ích. Phẫu thụật cát bỏ màng hoạt dịch, lấy chất hoại tử trong khớp và làm cứng khớp trong những trường hợp nhiễm khuẩn khớp ở mức độ nặng.

Bệnh nhiễm nấm histoplasma

Tổn thương khu trú tại xương khớp trong bệnh nhiễm nấm histoplasma hiếm gặp và nhìn chung do sự lan tràn từ ổ nhiễm tiên phát ở phổi. Tổn thương xương khớp có thể một hoặc nhiều vị trí và không có tính chất đặc hiệu.

Bài xem nhiều nhất

Hội chứng đau cổ cánh tay: chẩn đoán và điều trị

Nguyên nhân đau cổ gồm căng cứng hoặc vẹo cổ cấp hoặc mạn tính, thoát vị nhân nhày đĩa đệm, thoái khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp

Hội chứng Sjogren: chẩn đoán và điều trị

Viêm kết giác mạc khô do giảm tiết nước mắt, gây nên bởi sự thâm nhiễm tế bào lympho và tương bào vào các tuyến lệ. Triệu chứng gồm nóng rát, ngứa, tiết rỉ mắt và không chảy nước mắt khi khóc.

Hội chứng Reiter: chẩn đoán và điều trị

Hội chứng Reiter cần phải phân biệt với viêm khớp do lậu, đặc biệt khi viêm kết mạc nhẹ hoặc bị bỏ qua, Viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp tiên phát

Hội chứng đường hầm cổ tay: chẩn đoán và điều trị

Hội chứng này cần phải phân biệt với các hội chứng đau cổ cánh tay khác, hội chứng chèn ép thần kinh giữa vùng cẳng hoặc cánh tay, bệnh viêm một dây thần kinh

Đau thắt lưng: chẩn đoán và điều trị

Thăm khám thực thể cũng rất quan trọng, bởi vì những triệu chứng như sốt, tăng huyết áp, hạch to, có khối u ở bụng, ở khung chậu hay ở trực tràng

Bệnh co thắt Dupuytren: chẩn đoán và điều trị

Co thắt Dupuytren có biểu hiện bằng sự dầy lên của bao cân gan tay dạng nốt hoặc giống như dây thừng ờ một hoặc hai bàn tay và thường ảnh hưởng tới các ngón thứ tư và thứ năm

Viêm đa cơ - viêm da cơ: chẩn đoán và điều trị

Viêm đa cơ là một bệnh hệ thống mà nguyên nhân chưá rõ, biểu hiện chủ yếu của bệnh là yếu cơ, Đây là một bệnh cơ nguyên phát thường gặp nhất ở người lớn

Những biểu hiện khớp trong nhiễm HIV

Viêm gân Achille hoặc viêm quanh khớp gối, như trong hội chứng Reiter cổ điển, là những dấu hiệu thường nổi bật và rất đặc trưng

Viêm nút đa động mạch: chẩn đoán và điều trị

Viêm đa động mạch đặc trưng bởi tổn thương cục bộ hoặc từng đoạn của các mạch máu, đặc biệt là các động mạch nhỏ và trung bình, gây ra những biểu hiện lâm sàng khác nhau

Loạn dưỡng giao cảm phản xạ: chẩn đoán và điều trị

Tiên lượng phụ thuộc một phần vào giai đoạn bệnh, những tổn thương đã xuất hiện và phụ thuộc vào mức độ nặng của bệnh lý nội tạng phôi hợp. Điều trị sớm, khả năng hồi phục sẽ tôt hơn.