Tỷ lệ mắc và những yếu tố nguy cơ ung thư vú ở nữ

Ngày: 2016-12-2

By member of dieutri.vn

Phụ nữ bị ung thư thân tử cung có nguy cơ cao ung thư vú hơn phụ nữ bình thường, và phụ nữ ung thư vú có nguy cơ cao tương ứng mắc ung thư nội mạc tử cung, ở Mỹ ung thư vú ở người da trắng nhiều hơn ở người da màu.

Ung thư vú đứng hàng đầu trong các bệnh ung thư ở nữ giới và đứng thứ hai về nguyên nhân gây tử vong do ung thư ở nữ giới sau ung thư phổi. Khả năng bị ung thư vú tăng lên theo lứa tuổi ở phụ nữ. Độ tuổi trung bình mắc bệnh ung thư vú ở nữ giới ở khoảng 60 và 61 tuổi.

Có khoảng 182.000 ca mắc bệnh ung thư vú mới và khoảng 46.000 ca tử vong do bệnh này ở phụ nữ Mỹ năm 1995. Với tỷ lệ mắc này, Hiệp hội ung thư Mỹ dự đoán rằng cứ 8 hay 9 phụ nữ Mỹ thì có 1 người bị ung thư vú. Phụ nữ có mẹ hay chị em gái bị ung thư vú thì dễ bị bệnh hơn so với những người khác. Tỉ lệ mắc tăng lên ở những bệnh nhân có mẹ hay chị em gái của họ bị ung thư vú ở thời kỳ mãn kinh hay ung thư ở cả hai vú và ở những bệnh nhân có tiền sử có họ hàng bị ung thư vú ở 1 hay 2 thế hệ đầu. Tuy vậy, hơn 90% số phụ nữ ung thư vú không có tiền sử họ hàng nữ giới bị ung thư vú. Những phụ nữ không sinh đẻ và những người sinh con sau 35 tuổi có tỉ lệ mắc ung thư vú hơi cao hơn những phụ nữ sinh đẻ nhiều lần. Phụ nữ có kinh nguyệt muộn và mãn kinh sớm có tỉ lệ mắc ung thư vú thấp hơn, do vậy có kinh sớm (dưới 12 tuổi) và mãn kinh muộn (sau 50 tuổi) có tăng nhẹ nguy cơ bị ung thư vú. Loạn sản tuyến vú (bệnh u xơ vú), khi kèm theo với thay đổi tăng sinh, các u nhú, hoặc tăng sản biểu mô không điển hình có liên quan đến tăng tỉ lệ bị ung thư vú. Một phụ nữ có ung thư ở một bên vú thì có nguy cơ cáo bị ung thư ở vú bên kia. Phụ nữ bị ung thư thân tử cung có nguy cơ cao ung thư vú hơn phụ nữ bình thường, và phụ nữ ung thư vú có nguy cơ cao tương ứng mắc ung thư nội mạc tử cung, ở Mỹ ung thư vú ở người da trắng nhiều hơn ở người da màu. Tuy nhiên ti lệ mắc bệnh ở người da màu (nhất là da đen) đang tăng lên, đặc biệt ở những phụ nữ trẻ. Nói chung tỉ lệ mắc bệnh ghi nhận ở các nước đang phát triển là thấp trong khi đó tỉ lệ mắc cao ở các nước phát triển, trừ ở Nhật Bản. Một vài sự thay đổi có thể do ghi nhận không đúng ở các nước đang phát triển, nhưng cũng có thể có sự khác biệt. Các thuốc tránh thai uống không làm tăng nguy cơ bị ung thư vú. Các yếu tố về ăn uống đặc biệt là tăng tỉ lệ mỡ trong khẩu phần ăn có thể làm thay đổi tỷ lệ mắc bệnh. Có vài bằng chứng cho rằng sử dụng estrogen cho những phụ nữ sau mãn kinh có thể làm tăng tỉ lệ mắc ung thư vú nhưng chỉ khi dùng estrogen liều cao và kéo dài. Những nghiên cứu khác cho thấy rằng phụ nữ có tiền sử gia đình bị ung thư vú dùng thuốc estrogen sau khi mãn kinh hoặc dùng estradiol làm tăng nhẹ nguy cơ bị ung thư vú. Uống rượu cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư vú. Những phụ nữ có nguy cơ cao bị bệnh ung thư vú cần được đăng ký với bác sĩ khu vực, được hướng dẫn các kỹ thuật tự khám vú và cân được theo dõi cẩn thận.

Bảng. Các yếu tố liên quan đến tăng nguy cơ ung thư vú

Chủng tộc: Da trắng.

Tuổi: Trung niên.

Tiền sừ gia đình: Mẹ, chị em gái hoặc con gái bi ung thư vú (đặc biệt bị ung thư vú hai bên hay ờ tuổi tiền mãn kinh).

Tiền sử về bệnh tật trước đây: Ung thư nội mạc tủ cung. Một vài dạng loạn sản tuyến vú. Ung thư ở vú bên kia.

Tiền sữ kinh nguyệt: Có kinh sớm (dưới 12 tuổi). Mãn kinh muộn (sau 50 tuổi).

Thai nghén: Sinh con đầu muộn.