Hội chứng thận viêm (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 9 - 1 - 2016

Thường xét nghiệm thấy hồng cầu trong nước tiểu, có hình dạng thay đổi do đi qua màng mao mạch bị tổn thương nên được gọi là hồng cầu biến dạng

Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Hồng cầu niệu (có thể có trụ hồng cầu, hồng cầu biến dạng hoặc không).

Phù.

Tăng huyết áp.

Nhận định chung

Viêm cầu thận cấp có ý nghĩa là một quá trình viêm gây ảnh hưởng đến chức năng thận trong một số ngày hoặc một số tuần và có thể khỏi hẳn hoặc không. Nếu quá trình viêm nặng, có thể dẫn đến mất chức năng của > 50% cầu thận trọng nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Một bệnh cảnh như vậy, thường được gọi là viêm cầu thận cấp tính tiến triển nhanh, sẽ lạm tổn thương các cầu thận vĩnh viễn. Những thay đổi viêm kéo dài có thể gây viêm cầu thận mạn làm biến đổi chức năng thận kéo dài và dẫn tới suy thận giai đoạn cuối.

Các biểu hiện

Các triệu chứng và dấu hiệu

Phù thường phát hiện được ở vùng tổ chức lỏng lẻo như mi mắt hoặc bìu. Tăng huyết áp (nếu có) là do quá tải dịch hơn là do các chất hoạt mạch như angiotensin II vì nồng độ các chát này thường .thấp.

Các dấu hiệu cận lâm sàng

Sinh hóa máu:

Không có chất nào đặc trưng cho viêm thận, nhưng người ta thường dùng một số xét nghiệm, tùy thuộc vào bệnh sử và kết quả đánh giá ban đầu như nồng độ bổ thể, kháng thể kháng nhân(ANA), globulin lạnh, phức bộ viêm gari, IgA huyết thanh, kháng thể kháng tương bào (ANCA), kháng thể kháng màng đáy cầu thận, hiệu giá ASLO, yêu tố C3 viếm thận.

Phận tích nước tiểu:

Thường xét nghiệm thấy hồng cầu trong nước tiểu, có hình dạng thay đổi do đi qua màng mao mạch bị tổn thương nên được gọi là hồng cầu biến dạng. Trong nước tiểu cũng thường có tru hồng cầu và protein niệu vừa phải.

Sinh thiết thận:

Nếu kích thước thận bình thường hoặc to, có thể cân nhắc sinh thiết thận, nếu không có chống chỉ định (rối loạn đông máu, giảm tiểu cầu). Nếu > 50% tiểu cầu thận có hình liềm, rất có thể là viêm cầu thận tiến triển nhanh. Phân loại bệnh cũng có thể dựa vào hình ảnh miễn dịch huỳnh quang và hình ảnh hiển vi điện tử.

Bảng. Phân loại và các biểu hiện bệnh cầu thận: hội chứng thận viêm

 

KHV thường: kính hiển vi thường; KHVĐT: kính hiển vi điện tử; MD huỳnh quang: miễn dịch huỳnh quang.

Điều trị

Việc điều trị nhằm giảm tác hại của tăng huyết áp, quá tải dịch, tăng urê máu, và các biện pháp điều trị đặc biệt nhằm điều trị các nguyên nhân. Hạn chế muối, dịch, dùng thuốc lợi tiểu và đôi khi cần lọc máu để đạt được mục tiêu trên. Có thể phải dùng corticoid và các chãi độc tế bào trong các bệnh có tổn thương viêm cầu thận.

Bài mới nhất
Bài xem nhiều nhất

Bệnh nang thận (chẩn đoán và điều trị)

Đau bụng và mạng sườn là do nhiễm khuẩn, chảy máu trong nang hoặc do sỏi thận. Điều trị thông thường bằng các thuốc giảm đau và nghỉ ngơi tại giường

Suy thận cấp (chẩn đoán và điều trị)

Các dấu hiệu gặp trong suy thận cấp chủ yếu là do hậu quả của tăng urê máu và các nguyên nhân gây suy thận. Tăng urê máu gây buồn nôn, nôn, mệt thỉu, rối loạn cảm giác.

Hội chứng thận hư (chẩn đoán và điều trị)

Protein niệu là do hậu quả hư biến sự tích điện âm của màng đáy cầu thận. Có thể dùng băng giấy để xét nghiệm sàng lọc, nhưng cần nhớ loại xét nghiệm này chỉ xác định được albumin mà thôi.

Bệnh thận mãn tính (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh thận mạn ít khi hồi phục và thường dần dần dẫn đến tới giảm chức năng thận, thậm chí ngay cả khi các nguyên nhân ban đầu đã được loại bỏ

Viêm cầu thận (chẩn đoán và điều trị)

Viêm cầu thận cấp phối hợp với kháng thể chống màng đáy cầu thận có thể chỉ khu trú ở thận, hoặc kết hợp với xuất huyết phổi trong hội chứng Goodpasture.

Viêm thận kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thận kẽ cấp tính thường có tiên lượng tốt. Thường khỏi sau vài tuần đến vài tháng. Tuy nhiên, có đến 1/3 số trường hợp cần lọc máu ngoài thận trọng khi chờ đợi thận hồi phục

Bệnh ống thận - mô kẽ mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Có bốn nguyên nhân chính gây tình trạng bệnh này. Các nguyên nhân khác là: đa u tủy xương và bệnh gout được mô tả ở phần bệnh đa hệ thống có ảnh hưởng thận ở mức độ khác nhau.

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận

Cần điều trị bệnh nhân bị đa u tủy xương có protein Bence Jones niệu bằng melphalan và prednison. Tránh làm tăng calci máu và uống nhiều nước

Hoại tử ống thận cấp (chẩn đoán và điều trị)

Nguyên nhân chủ yếu khác của hoại tử ống thận cấp là do tiếp xúc với các chất gây độc thận. Các chất gây độc thận ngoại sinh thường gây tổn thương nặng hơn các chất độc nội sinh.

Tiếp cận khám và thăm dò bệnh nhân bị bệnh thận

Protein niệu không phải là một bệnh, mà là một dấu hiệu đang có một bệnh lý nào đó của thận. Khi do bệnh thận hoặc bệnh toàn thân, thường có các dấu hiệu bệnh lý khác đi kèm.

Bệnh thận thể hiện cả hội chứng thận hư và thận viêm

Bệnh nhân bị viêm cầu thận tăng sinh màng typ II thường đến viện với bệnh cảnh viêm thận và ít gặp hơn typ I, Hình ảnh vi thể qua kính hiển vi thường giống typ I.

Các bệnh ống thận - tổ chức kẽ

Thể mạn tính có thể là giai đoạn tiếp sau của thể cấp, nhưng cũng có thể không có liên quan rõ rệt với các nguyên nhân cấp tính, Xơ mô kẽ và teo ống thận thường gặp

Bệnh thận hư trong các bệnh thận tiên phát (chẩn đoán và điều trị)

Đây là thể gặp chủ yếu ở người lớn bị hội chứng thận hư tiên phát và là bệnh miễn dịch qua trung gian tế bào có đặc điểm là lắng đọng phức hợp miễn dịch

Hội chứng thận viêm (chẩn đoán và điều trị)

Thường xét nghiệm thấy hồng cầu trong nước tiểu, có hình dạng thay đổi do đi qua màng mao mạch bị tổn thương nên được gọi là hồng cầu biến dạng

Bệnh thận hư do các bệnh hệ thống (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh thận ở người nhiễm HIV có thể biểu hiện dưới dạng hội chứng thận hư. Đa số là bệnh nhân nam trẻ, da đen, nhiễm HIV do tiêm chích ma túy.