Các nhiễm khuẩn vùng cổ sâu: chẩn đoán và điều trị

2016-09-09 04:32 PM

Nền tảng của điều trị bao gồm bảo đảm thông suốt đường thở, tiêm truyền kháng sinh và chích rạch dẫn lưu đường thở có thể được bảo đảm bằng phương pháp đặt nội khí quản hoặc mở khí quản.

Những áp xe vùng cổ sâu thường thể hiện bằng triệu chứng sưng đau vùng cổ trên bệnh nhân có sốt nhiễm độc. Đây là những trường hợp khẩn cấp vì có thể nhanh chóng bị tổn thương đường thở, có thể lan tới trung thất hoặc gây ra nhiễm trùng huyết, thường gặp nhất là nguồn gốc nhiễm khuẩn răng miệng.

Những nguyên nhân khác bao gồm tấy mủ các hạch bạch huyết lan trực tiếp từ nhiễm khuẩn họng, các chấn thương xuyên, dị vật vùng họng thực quản và tiêm truyền tĩnh mạch vào tĩnh mạch cảnh trong, đặc biệt là chích ma túy.

Nền tảng của điều trị bao gồm bảo đảm thông suốt đường thở, tiêm truyền kháng sinh và chích rạch dẫn lưu đường thở có thể được bảo đảm bằng phương pháp đặt nội khí quản hoặc mở khí quản. Mở khí quản được lựa chọn trong trường hợp người bệnh bị phù nề vùng hầu, trong khi cố gắng đặt nội khí quản cũng có thể dễ gây ra tắc nghẽn đường thở cấp tính. CT scan có thể giúp xác định sự tiến triển của áp xe, chảy máu phối hợp với áp xe ở vùng cổ có khả năng tổn thương động mạch cảnh hoặc tĩnh mạch cảnh trong, đặt ra yêu cầu phải tiến hành kịp thời mở vùng cổ cho cả dẫn lưu và thắt buộc các mạch.

Chứng viêm họng Ludwig thường hay gặp nhất trong các nhiễm khuẩn ở vùng cổ. Đó là viêm mô tế bào vùng dưới lưỡi và dưới hàm, thường xuất hiện sau nhiễm khuẩn chân răng, lan truyền theo đường cơ móng của hàm dưới. Về lâm sàng có phù nề và ban đỏ vùng cổ trên, dưới cằm và thường cả sau miệng. Lưỡi có thể bị đẩy lên trên hoặc ra sau do sự lan tràn ra phía sau của viêm mô tế bào. Điều này có thể dẫn tới tắc nghẽn đường thở và cần mở khí quản.

Phân lập vi khuẩn cho kết quả gồm liên cầu, bacteroid, và khuẩn hình thoi. Việc nhập viện và tiêm truyền kháng sinh tĩnh mạch là cần thiết. Thường dùng penicilin kết hợp metronidazol, ampicilin sulbactam, clinamycin, hoặc một loại cephalosporin là những thuốc lựa chọn sơ bộ ban đầu. Kết quả nuôi cấy và độ nhậy kháng sinh sẽ cho lựa chọn chi tiết. Nên tiến hành thăm khám về răng miệng, rạch dẫn lưu dưới cằm ngay lập tức khi đường thở bị đe dọa và khi các biện pháp điều trị nội khoa không mang lại kết quả.

Bài mới nhất

Các cơ chế giữ ổn định mắt của tiền đình và yếu tố khác

Chức năng dự báo của hệ thống ống bán khuyên để duy trì sự thăng bằng

Ống bán khuyên nhận biết sự quay đầu

Duy trì thăng bằng tĩnh: chức năng của soan nang và cầu nang

Cơ quan tiền đình: duy trì sự thăng bằng

Vai trò của các nhân não và tiền đình: nâng đỡ cơ thể chống lại trọng lực

Chức năng vận động của thân não

Kiểm soát mức độ chính xác của co cơ: sự điều hòa ngược của hệ thống cảm giác thân thể tới vỏ não vận động

Vùng vỏ não vận động sơ cấp và nhân đỏ: sự hoạt hóa những vùng chi phối vận động ở tủy sống

Dẫn truyền tín hiệu từ vỏ não đến tủy sống: nhân đỏ hoạt động như con đường phụ

Các con đường thần kinh để sợi cảm giác đi tới vỏ não vận động

Các con đường thần kinh từ vỏ não vận động

Dẫn truyền các tín hiệu vận động từ vỏ não tới các cơ

Vùng chi phối vận động chuyên biệt trên vỏ não

Vùng vận động bổ xung: chức năng vận động của vỏ não và thân não

Vùng tiền vận động: chức năng vận động của vỏ não và thân não

Vùng vận động sơ cấp: chức năng vận động của vỏ não và thân não

Covid-19 thay đổi mạch máu phổi: kết quả từ chụp phim lồng ngực

Giống và khác nhau của Vắc xin DNA so với mRNA

Glumeron 30 MR: thuốc điều trị đái tháo đường tuýp II

GliritDHG: thuốc điều trị đái tháo đường tuýp 2

Lipvar 20: thuốc điều trị cholesterol máu cao

Phản xạ tự chủ của tủy sống: hệ thần kinh tự chủ được tích hợp trong tủy sống

Phản xạ tủy sống gây co cứng cơ

Động tác bước và đi bộ: phản xạ tư thế