Các nhiễm khuẩn vùng cổ sâu (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 9 - 9 - 2016

Nền tảng của điều trị bao gồm bảo đảm thông suốt đường thở, tiêm truyền kháng sinh và chích rạch dẫn lưu đường thở có thể được bảo đảm bằng phương pháp đặt nội khí quản hoặc mở khí quản.

Những áp xe vùng cổ sâu thường thể hiện bằng triệu chứng sưng đau vùng cổ trên bệnh nhân có sốt nhiễm độc. Đây là những trường hợp khẩn cấp vì có thể nhanh chóng bị tổn thương đường thở, có thể lan tới trung thất hoặc gây ra nhiễm trùng huyết, thường gặp nhất là nguồn gốc nhiễm khuẩn răng miệng.

Những nguyên nhân khác bao gồm tấy mủ các hạch bạch huyết lan trực tiếp từ nhiễm khuẩn họng, các chấn thương xuyên, dị vật vùng họng thực quản và tiêm truyền tĩnh mạch vào tĩnh mạch cảnh trong, đặc biệt là chích ma túy.

Nền tảng của điều trị bao gồm bảo đảm thông suốt đường thở, tiêm truyền kháng sinh và chích rạch dẫn lưu đường thở có thể được bảo đảm bằng phương pháp đặt nội khí quản hoặc mở khí quản. Mở khí quản được lựa chọn trong trường hợp người bệnh bị phù nề vùng hầu, trong khi cố gắng đặt nội khí quản cũng có thể dễ gây ra tắc nghẽn đường thở cấp tính. CT scan có thể giúp xác định sự tiến triển của áp xe, chảy máu phối hợp với áp xe ở vùng cổ có khả năng tổn thương động mạch cảnh hoặc tĩnh mạch cảnh trong, đặt ra yêu cầu phải tiến hành kịp thời mở vùng cổ cho cả dẫn lưu và thắt buộc các mạch.

Chứng viêm họng Ludwig thường hay gặp nhất trong các nhiễm khuẩn ở vùng cổ. Đó là viêm mô tế bào vùng dưới lưỡi và dưới hàm, thường xuất hiện sau nhiễm khuẩn chân răng, lan truyền theo đường cơ móng của hàm dưới. Về lâm sàng có phù nề và ban đỏ vùng cổ trên, dưới cằm và thường cả sau miệng. Lưỡi có thể bị đẩy lên trên hoặc ra sau do sự lan tràn ra phía sau của viêm mô tế bào. Điều này có thể dẫn tới tắc nghẽn đường thở và cần mở khí quản.

Phân lập vi khuẩn cho kết quả gồm liên cầu, bacteroid, và khuẩn hình thoi. Việc nhập viện và tiêm truyền kháng sinh tĩnh mạch là cần thiết. Thường dùng penicilin kết hợp metronidazol, ampicilin sulbactam, clinamycin, hoặc một loại cephalosporin là những thuốc lựa chọn sơ bộ ban đầu. Kết quả nuôi cấy và độ nhậy kháng sinh sẽ cho lựa chọn chi tiết. Nên tiến hành thăm khám về răng miệng, rạch dẫn lưu dưới cằm ngay lập tức khi đường thở bị đe dọa và khi các biện pháp điều trị nội khoa không mang lại kết quả.

Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Chảy máu mũi (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các trường hợp chảy máu mũi trước có thể cầm bằng ép trực tiếp vào điểm chảy máu. Cánh mũi phải được ép chặt ít nhất 10 phút.