Các khối u ác tính vùng mũi họng và xoang (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 7 - 9 - 2016

Ung thư biểu mô lát hay gặp nhất ở vùng giải phẫu này, đặc biệt hay gặp ở vùng mũi họng, ở đây nó thường hay gây tắc vòi nhĩ và viêm tai tiết dịch.

Thật không may mắn, các khối u ác tính ở mũi, vòm mũi họng và xoang có xu hướng không có triệu chứng cho đến khi bệnh ở giai đoạn muộn. Nói chung tiên lượng là xấu.

Các triệu chứng sớm không đặc hiệu, hay nhầm với triệu chứng của viêm mũi, viêm xoang. Chảy mũi và tắc mũi một bên là thường gặp, có đau và chảy máu tái phát thường hướng tới chẩn đoán ung thư.

Bất kỳ bệnh nhân nào có các triệu chứng mũi một bên hoặc dai dẳng nên được đánh giá kỹ lưỡng. Luôn giữ nghi ngờ cao tới ác tính là điểm mấu chốt để chẩn đoán sớm các khối u. Bệnh nhân thường có các triệu chứng tiến triển như sụp mi, xâm lấn ra má, hoặc đau cả răng hàm trên. Giảm cảm giác vùng má do tổn thương xâm lấn vào thần kinh dưới ổ mắt hay gặp trong khối u xoang hàm. Sinh thiết cần cho chẩn đoán xác định, MRI hoặc CT Scan sẽ cho biết phạm vi lan tràn của khối u.

Ung thư biểu mô lát hay gặp nhất ở vùng giải phẫu này, đặc biệt hay gặp ở vùng mũi họng, ở đây nó thường hay gây tắc vòi nhĩ và viêm tai tiết dịch. Ung thư vòm NPC (ung thư biểu mô kém biệt hóa, ung thư biểu mô không sừng hóa, ung thư biểu mô lympho) thường liên quan với tăng IgA đối với kháng nguyên vỏ của Epstein Barr virus. Bệnh hay gặp ở những người Trung Quốc phía Nam, nhưng có thể gặp ở mọi dân tộc. Bất kỳ người lớn nào có viêm tai tiết dịch dai dẳng, đặc biệt ở một bên, cần phải khám vòm cẩn thận.

Ung thư tuyến, u hắc tố niêm mạc, sarcoma và ung thư lympho không Hodgkin ít gặp trong vùng này.

Điều trị phụ thuộc vào loại khối u và sự xâm lấn của khối u. Ung thư vòm có thể điều trị được (được coi là thành công) bằng liệu pháp tia xạ đơn thuần.

Các loại ung thư biểu mô khác khi có thể phẫu thuật được thì tốt nhất là kết hợp phẫu thuật và tia xạ. Rất nhiều nghiên cứu về vai trò của tia xạ đã được thực hiện.

Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Chảy máu mũi (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các trường hợp chảy máu mũi trước có thể cầm bằng ép trực tiếp vào điểm chảy máu. Cánh mũi phải được ép chặt ít nhất 10 phút.