Viêm cấp và mạn tuyến nước bọt do loạn sản (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 9 - 9 - 2016

Sinh bệnh học là sự tắc nghẽn các ống tuyến thường gây ra bởi sự cô đặc dịch nhầy gây bít tắc, tiếp theo sau là ứ nước bọt và nhiễm khuẩn thứ phát.


Các tuyến nước bột gồm hai tuyến mang tai lớn, hai tuyến dưới hàm, một vài tuyến ở dưới lưỡi và có 600 - 1000 tuyến nước bọt nhỏ nằm rải rác ở phần trên của đường tiêu hóa - hô hấp.

Viêm cấp do loạn sản tuyến nước bọt

Viêm tuyến nước bọt

Nhiễm khuẩn cấp tuyến nước bọt của người lớn phần lớn ở tuyến mang tai và tuyến dưới hàm.

Thể hiện điển hình bằng sưng cấp tính của tuyến, đau tăng và sưng tăng lên khi ăn. Có thể cảm giác đau và ban đỏ ở lỗ mở ống dẫn, mủ thường có thể ra từ ống khi xoa bóp. Viêm tuyến nước bọt thường xuất hiện trong bệnh cảnh mất nước hoặc kết hợp với đau ốm kéo dài. Hội chứng Sjogren về cơ bản cũng có ảnh hưởng rõ như vậy.

Sinh bệnh học là sự tắc nghẽn các ống tuyến thường gây ra bởi sự cô đặc dịch nhầy gây bít tắc, tiếp theo sau là ứ nước bọt và nhiễm khuẩn thứ phát. Vi khuẩn thường gặp trong mủ tuyến nước bọt là tụ cầu vàng. Việc điều trị bao gồm tiêm kháng sinh tĩnh mạch, có thể dùng nafcillin (1g tiêm tĩnh mạch mỗi 4 - 6 giờ một lần) và cũng lưu ý tới việc làm tăng tiết nước bọt bao gồm bù nước, đắp gạc ấm và tăng tiết nước bọt (như nhỏ giọt nước chanh), xoa bóp vùng tuyến. Điều trị thất bại trong các trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ áp xe, chít hẹp ống, sỏi hoặc khối u gây nên sự tắc nghẽn. Siêu âm hoặc CT scan có thể giúp xác định chuẩn đoán. Tốt nhất nên tránh chụp X quang tuyến nước bọt trong trường hợp cấp tính.

Sỏi tuyến nước bột

Sỏi thường tạo nên ở ống Wharton (dẫn lưu tuyến dưới hàm) nhiều hơn là ở ống Stensen (dẫn lưu tuyến mang tai). Trên lâm sàng bệnh nhân có the thấy đau và sưng khu trú, thương có tiền sử viêm tuyến nưốc bọt cấp tái phát, sỏi ở ống Wharton thường lớn và cản quang, trong khi đó sỏi ở ống Stensen thường không cản quang và nhỏ hơn. sỏi rất gần với chỗ đổ ra của ống Wharton, có thể sờ thấy ở phía trước sàn miệng và được lấy bỏ theo đường trong miệng bằng nong hoặc rạch đầu trong của ống. Sỏi ở đầu ngoài của ống phải được kẹp tạm thời để giữ cho sỏi không trở lại tuyến dưới hàm khi thao tác lấy ra. Những viên sỏi cách ống trên 1,5cm sẽ quá gần với dây lưỡi khó lấy ra an toàn bằng phưong pháp này.

Tương tự, nong ống Stensen vị trí ở niêm mạc má đối diện với răng hàm thứ hai, có thể làm mất thắt hẹp ở đầu trong hoặc cho phép sỏi nhỏ đi qua. Vị trí của dây thần kinh mặt làm cho việc lấy sỏi bằng đường miệng của tuyến mang tai không an toàn.

Sự tái phát của các giai đoạn viêm tuyến nước bọt dẫn tới thắt hẹp và nhiễm khuẩn mạn tính. Nếu sự tắc nghẽn không thể giải quyết bằng lấy bỏ hoặc nong thì có thể cần cắt bỏ tuyến.

Một số có thể thành công trường hợp chọn lọc tán sỏi bằng áp điện shock.

Viêm mạn tính và các rối loạn thâm nhiễm của tuyến nước bọt

Các rối loạn thâm nhiễm có thể gây to tuyến mang tai một bên hoặc hai bên. Bệnh Sjogren và bệnh sarcoid là những ví dụ của bệnh tổ chức hạt và bệnh của tổ chức lympho biểu mô. Các rối loạn chuyển hóa gồm những người uống rượu, đái tháo đường và thiếu vitamin có thể gây tuyến to lan tỏa. Một số thuốc làm tuyến mang tai to ra gồm thioureas, iot và thuốc tác dụng lên tiết acetylcholin (như phenothiazin) làm kích thích chảy nước bọt và làm cho nước bọt nhày hơn.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Bệnh lý ống tai (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật ống tai thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Những chất rắn có thể được lấy bằng vòng hoặc móc ráy, cần cẩn thận để tránh đẩy dị vật vào trong.

Tổn thương loét trong miệng (chẩn đoán và điều trị)

Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Viêm mũi dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Dùng steroid trong viêm mũi có vai trò với dị ứng theo mùa, có polip mũi, thường làm giảm các chỉ định phẫu thuật.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Bệnh lý vành tai (chẩn đoán và điều trị)

Cũng tương tự, những trường hợp bị viêm mô tế bào vành tai phải được điều trị ngay đề phòng sự tiến triển tới viêm màng sụn và các hậu quả biến dạng của nó.

Dị vật khí phế quản, thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật khí phế quản nên được lấy ra dưới gây mê toàn thân tiến hành bởi người có kinh nghiệm đặt ống nội khí quản phối hợp với người gây mê có kinh nghiệm.

Áp xe quanh amidan và viêm mô tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Trong một vài trường hợp có đề nghị chấp nhận cắt amidan ngay cùng với dẫn lưu áp xe và tránh sự tái phát. Cả hai cách đều hợp lý và được ủng hộ trong y văn.

U tuyến nước bọt (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết u của tuyến mang tai thể hiện như một khối không có triệu chứng ở phần ngoài của tuyến. Khối u có thể được bệnh nhân nhận thấy trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.

U thanh quản (chẩn đoán và điều trị)

Việc điều trị đòi hỏi thay đổi thói quen về nói và được coi là phương pháp điều trị giọng nói. Với các hạt không hồi phục có thể đòi hỏi phải phẫu thuật lấy bỏ.

Nghe kém (chẩn đoán và điều trị)

Nghe kém tiếp nhận là kết quả hư hại của ốc tai, thường do mất các tế bào lông của cơ quan Corti.

Cắt amidan (chẩn đoán và điều trị)

Hiện nay thấy rõ ràng là các bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan ngoại trú thường an an toàn nếu theo dõi trong thời gian 6 giờ mà không có biến có gì.

Viêm cấp và mạn tuyến nước bọt do loạn sản (chẩn đoán và điều trị)

Sinh bệnh học là sự tắc nghẽn các ống tuyến thường gây ra bởi sự cô đặc dịch nhầy gây bít tắc, tiếp theo sau là ứ nước bọt và nhiễm khuẩn thứ phát.

Xem theo danh mục