Tổn thương loét trong miệng (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 8 - 9 - 2016

Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn.


Viêm loét lợi hoại tủ (bệnh miệng chiến hào, nhiễm khuẩn Vincent)

Viêm loét lợi hoại tử thường do nhiễm xoắn khuẩn và trực khuẩn, hình thoi. Bệnh thường gặp ở người lớn sau sang chấn tinh thần. Các bệnh hệ thống cũng có thể là những yếu tố gây nên rối loạn này. Về lâm sàng, đau viêm lợi cấp và hoại tử, thường chảy máu, hôi miệng, sốt và có hạch cổ. Nếu có thể thì ngoài việc thay đổi hoặc làm mất các yếu tố gây bệnh cần điều chỉnh lại chế độ ăn không đầy đủ, súc miệng bằng nước oxy già ấm, uống penicillin (250 mg 3 lần/ngáy trong 10 ngày). Nạo vét răng lợi có thể cần thiết.

Loét áp tơ (loét Canker, viêm loét miệng)

Loét áp tơ thường gặp và dễ nhận biết. Nguyên nhân của bệnh vẫn chưa rõ ràng. Bệnh được phát hiện ở niêm mạc không sừng hóa (như niêm mạc má, niêm mạc môi, không thấy ở lợi hoặc khẩu cái). Chúng có thể là một hoặc nhiều ổ, hay tái phát, biểu hiện những vết loét nhỏ đau (thường 1- 2 mm; đôi khi 1- 2cm) ổ loét tròn với những đám sợi màu vàng xám, được bao bọc bởi bựa màu đỏ. Giai đoạn đau kéo dài 7 - 10 ngày và khỏi hoàn toàn trong 1- 3 tuần.

Điều trị không đặc hiệu. Bôi steroid tại chỗ (triamcinolon acetonid 0,1% hoặc mỡ fluocinonid, 0,05% trong chất nền dính (Orabase Plain) có tác dụng làm giảm triệu chứng. Dùng 1 tuần prednisolon liều cao (40 - 60 mg/ngày) có tác dụng tốt.

Những vùng loét miệng lớn hoặc tái phát có thể thứ phát sau xung huyết từng đám hoặc dị ứng thuốc, nhiễm mụn rộp cấp pemphigut, dạng pemphigut, địa y phẳng có mụn nước, bệnh Behcet hoặc bệnh lý viêm đường ruột. Ung thư tế bào dát đôi khi biểu hiện như loét áp tơ. Khi chẩn đoán không rõ ràng, cần chỉ định sinh thiết.

Viêm miệng do herpes

Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn. Những bệnh nhân bị ức chế miễn dịch, phản ứng của nhiễm virus herpes thường gặp và có thể nặng. Trên lâm sàng, lúc đầu cảm giác bỏng rát, sau đó là những bọng nước nhỏ điển hình, rồi vỡ ra tạo thành vảy.

Acyclovir (250 mg 5 lần/ngày) có thể làm ngắn thời gian điều trị và giảm đau. Chẩn đoán phân biệt gồm loét niêm mạc miệng cũng như ban đỏ đa hình thái, giang mai và ung thư.

Các tổn thương do virus Coxsackie (amidan trắng xám nhợt và loét vòm miệng của viêm miệng do herpes và loét môi trong bệnh tay chân và miệng) rất thường gặp ở trẻ em dưới 6 tuổi.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Bệnh lý ống tai (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật ống tai thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Những chất rắn có thể được lấy bằng vòng hoặc móc ráy, cần cẩn thận để tránh đẩy dị vật vào trong.

Tổn thương loét trong miệng (chẩn đoán và điều trị)

Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Viêm mũi dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Dùng steroid trong viêm mũi có vai trò với dị ứng theo mùa, có polip mũi, thường làm giảm các chỉ định phẫu thuật.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Bệnh lý vành tai (chẩn đoán và điều trị)

Cũng tương tự, những trường hợp bị viêm mô tế bào vành tai phải được điều trị ngay đề phòng sự tiến triển tới viêm màng sụn và các hậu quả biến dạng của nó.

Dị vật khí phế quản, thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật khí phế quản nên được lấy ra dưới gây mê toàn thân tiến hành bởi người có kinh nghiệm đặt ống nội khí quản phối hợp với người gây mê có kinh nghiệm.

U tuyến nước bọt (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết u của tuyến mang tai thể hiện như một khối không có triệu chứng ở phần ngoài của tuyến. Khối u có thể được bệnh nhân nhận thấy trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.

Áp xe quanh amidan và viêm mô tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Trong một vài trường hợp có đề nghị chấp nhận cắt amidan ngay cùng với dẫn lưu áp xe và tránh sự tái phát. Cả hai cách đều hợp lý và được ủng hộ trong y văn.

U thanh quản (chẩn đoán và điều trị)

Việc điều trị đòi hỏi thay đổi thói quen về nói và được coi là phương pháp điều trị giọng nói. Với các hạt không hồi phục có thể đòi hỏi phải phẫu thuật lấy bỏ.

Nghe kém (chẩn đoán và điều trị)

Nghe kém tiếp nhận là kết quả hư hại của ốc tai, thường do mất các tế bào lông của cơ quan Corti.

Cắt amidan (chẩn đoán và điều trị)

Hiện nay thấy rõ ràng là các bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan ngoại trú thường an an toàn nếu theo dõi trong thời gian 6 giờ mà không có biến có gì.

Viêm cấp và mạn tuyến nước bọt do loạn sản (chẩn đoán và điều trị)

Sinh bệnh học là sự tắc nghẽn các ống tuyến thường gây ra bởi sự cô đặc dịch nhầy gây bít tắc, tiếp theo sau là ứ nước bọt và nhiễm khuẩn thứ phát.

Xem theo danh mục