Bệnh nấm candida (chẩn đoán và điều trị)


Ngày: 8 - 9 - 2016

Chẩn đoán thường không khó, những mảng trắng trong miệng gây đau trên nền xung huyết ở những bệnh nhân có nguy cơ nhiễm nấm candida.

Nấm candida miệng (tưa) thường gây đau và giống như những mảng kem trắng phủ lên bề mặt niêm mạc xung huyết, vì những vùng trắng này dễ dàng cạo bỏ (như dùng đè lưỡi) nên không giống như hồng sản và mảng địa y phẳng, có thể chỉ thấy đám xung huyết bất thường phía dưới.

Nấm candida miệng thường ở những bệnh nhân đeo răng giả, suy kiệt, đái tháo đường, thiếu máu, những bệnh nhân điều trị hóa chất hoặc tia xạ tại chỗ và những bệnh nhân điều trị corticotd hoặc kháng sinh phổ rộng. Nấm candida thường là có trước các biểu hiện của nhiễm HIV ở những người có nguy cơ cao. Viêm khóe môi cũng là biểu hiện của nấm candida mặc dầu nó thường gặp ở những bệnh nhân thiếu dinh dưỡng.

Chẩn đoán thường không khó - những mảng trắng trong miệng gây đau trên nền xung huyết ở những bệnh nhân có nguy cơ nhiễm nấm candida. Lấy bệnh phẩm ướt ở những chỗ đốm làm phiến đàn với hydroxid kali sẽ xác định được những bào tử và có thể những sợi nấm không có vách ngăn. Sinh thiết sẽ thấy hình ảnh giả sợi nấm trong lớp biểu mô của nấm Candida Albican.

Hiệu quả chống nấm có thể thấy sau điều trị bằng các thuốc như fluconazol (100 mg/ngày trong 7 - 14 ngày), ketoconazol (200 - 400 mg uống khi ăn sáng, thuốc này cần môi trường acid đã hấp thụ, cần dùng 7 - 14 ngày), clotrimazol viên (10 mg ngậm trong miệng 5 lần/ngày) hoặc viên nystatin (100 000 đơn vị ngậm 5 lần/ngày) hoặc nước súc miệng (500 000 đơn vị [5 ml dung dịch có nồng độ 100.000 đơn vị/ml] ngậm trong miệng trước khi nuốt, dùng 3 lần/ngày). Điều trị đợt ngắn cũng cố kết quả trong nhiều trường hợp, chẳng hạn như dùng fluconazol.

Ngoài ra, có thể dùng 0,12% cholorhexidin hoặc nước oxy già súc miệng có tác dụng tại chỗ. Bột nystatin (100 000 đơn vị/g) dùng cho những bệnh nhân đeo hàm giả 3 - 4 lần/ngày trong nhiều tuần có thể có tác dụng tốt.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Tổn thương loét trong miệng (chẩn đoán và điều trị)

Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Xem theo danh mục