Chảy máu mũi (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 7 - 9 - 2016

Hầu hết các trường hợp chảy máu mũi trước có thể cầm bằng ép trực tiếp vào điểm chảy máu. Cánh mũi phải được ép chặt ít nhất 10 phút.


Chảy máu từ điểm mạnh Kiesselbach, đám rối mạch ở phần trước của vách ngăn là loại hay gặp nhất trong chảy máu vách ngăn. Các yếu tố gây chảy máu mũi gồm chấn thương mũi (ngoáy mũi, dị vật, hắt hơi qúa mạnh), viêm mũi, khô niêm mạc mũi do độ ẩm ở mức thấp và vẹo vách ngăn.

Hầu hết các trường hợp chảy máu mũi trước có thể cầm bằng ép trực tiếp vào điểm chảy máu. Cánh mũi phải được ép chặt ít nhất 10 phút. Áp lực tĩnh mạch được giảm ở tư thế ngồi và cúi về trước để đỡ nuốt phải máu. Các thuốc co mạch tác dụng ngắn phenylephrin 0,125 - 1% dùng 1 hoặc 2 lần xịt có thể có tác dụng. Khi chảy máu không thực sự giảm nên thăm khám mũi với nguồn sáng và máy hút tốt để xác định vị trí chảy máu. Dùng cocain 4% xịt hoặc tẩm bông đặt tại chỗ vừa giảm đau, vừa co mạch. Khi đã nhìn thấy nơi chảy máu có thể đốt bằng nitrat bạc, nhiệt hay đông điện hỗ trợ thêm. Có thể dùng mảnh Surgicel hoặc Gelfoam để nhét mũi.

Đôi khi, vị trí của chảy máu không thể nhìn thấy được hoặc cố gắng để cầm bị thất bại, trong những trường hợp như vậy nhét bấc mũi là cần thiết. Nhét bấc mũi trưóc cần nhiều đoạn bấc dài nửa inch tẩm bacitracin hoặc dầu nhờn. Khi nhét bấc cần cẩn thận và trình tự dọc theo sàn mũi lên đến trên mũi. Nếu dụng cụ để nhẻt bấc không đủ, có thể dùng các quả bóng đã được chế tạo để cầm máu mũi hay với các dung dịch đặc hiệu.

Khoảng 5% chảy máu mũi có nguồn gốc ở mũi sau. Cần đặt bấc chèn cửa mũi sau trước khi đặt bấc mũi trước, vì nhét bấc mũi rất khó chịu cho bệnh nhân và cần cung cấp oxy cho bệnh nhân để tránh hạ oxy máu, nên cho bệnh nhân nằm viện vài ngày. Thuốc giảm đau (tiền mê) cần thiết để giảm sự khó chịu và tăng huyết áp do nhét bấc mũi sau. Thắt động mạch cấp máu cho mũi (động mạch hàm trong và động mạch sàng) được làm cùng với nhét bấc mũi sau. Chỉ định phẫu thuật là cận thiết khi nhét bấc mũi không có kết quả trong chảy máu nặng đe dọa tính mạng bệnh nhân. Đôi khi cần làm nghẽn mạch chọn lọc hoặc thắt mạch cảnh ngoài.

Sau khi đã cầm được máu, cần khuyên bệnh nhân tránh hoạt động mạnh trong nhiều ngày, tránh ăn thức ăn nóng, cay và hút thuốc lá vì có thể gây giãn mạch, tránh các chấn thương vùng mũi, kể cả những chấn thương do ngón tay ngoáy mũi là cần thiết. Bôi dầu cao hoặc mỡ bacitricin và tăng độ ẩm trong nhà có tác dụng phòng chảy máu mũi. Điều quan trọng là tất cả các bệnh nhân chảy máu mũi cần được lưu ý tìm các nguyên nhân gây chảy máu. Cần làm các xét nghiệm về chảy máu đặc biệt các trường hợp tái phát. Các nguyên nhân khác gây chảy máu tái phát như giãn mao mạch, chảy máu di truyền (Osler - Weber - Rendu) cũng cần lưu ý.

Tương tự, khi giai đoạn cấp đã qua, việc thăm khám cẩn thận mũi và các xoang là cần thiết.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Bệnh lý ống tai (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật ống tai thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Những chất rắn có thể được lấy bằng vòng hoặc móc ráy, cần cẩn thận để tránh đẩy dị vật vào trong.

Tổn thương loét trong miệng (chẩn đoán và điều trị)

Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Viêm mũi dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Dùng steroid trong viêm mũi có vai trò với dị ứng theo mùa, có polip mũi, thường làm giảm các chỉ định phẫu thuật.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Bệnh lý vành tai (chẩn đoán và điều trị)

Cũng tương tự, những trường hợp bị viêm mô tế bào vành tai phải được điều trị ngay đề phòng sự tiến triển tới viêm màng sụn và các hậu quả biến dạng của nó.

Dị vật khí phế quản, thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật khí phế quản nên được lấy ra dưới gây mê toàn thân tiến hành bởi người có kinh nghiệm đặt ống nội khí quản phối hợp với người gây mê có kinh nghiệm.

Áp xe quanh amidan và viêm mô tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Trong một vài trường hợp có đề nghị chấp nhận cắt amidan ngay cùng với dẫn lưu áp xe và tránh sự tái phát. Cả hai cách đều hợp lý và được ủng hộ trong y văn.

U tuyến nước bọt (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết u của tuyến mang tai thể hiện như một khối không có triệu chứng ở phần ngoài của tuyến. Khối u có thể được bệnh nhân nhận thấy trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.

U thanh quản (chẩn đoán và điều trị)

Việc điều trị đòi hỏi thay đổi thói quen về nói và được coi là phương pháp điều trị giọng nói. Với các hạt không hồi phục có thể đòi hỏi phải phẫu thuật lấy bỏ.

Nghe kém (chẩn đoán và điều trị)

Nghe kém tiếp nhận là kết quả hư hại của ốc tai, thường do mất các tế bào lông của cơ quan Corti.

Cắt amidan (chẩn đoán và điều trị)

Hiện nay thấy rõ ràng là các bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan ngoại trú thường an an toàn nếu theo dõi trong thời gian 6 giờ mà không có biến có gì.

Viêm cấp và mạn tuyến nước bọt do loạn sản (chẩn đoán và điều trị)

Sinh bệnh học là sự tắc nghẽn các ống tuyến thường gây ra bởi sự cô đặc dịch nhầy gây bít tắc, tiếp theo sau là ứ nước bọt và nhiễm khuẩn thứ phát.

Xem theo danh mục