Viêm mũi dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 6 - 9 - 2016

Dùng steroid trong viêm mũi có vai trò với dị ứng theo mùa, có polip mũi, thường làm giảm các chỉ định phẫu thuật.


Các triệu chứng của "sốt cỏ khô" giống như viêm mũi do virus nhưng thường kéo dài hơn và thay đổi theo mùa.

Các triệu chứng của mũi thường kèm theo sự kích thích của mắt gây nên ngứa, xung huyết và chảy nước mắt nhiều. Nhiều kháng nguyên có thể gây nên dị ứng; phấn hoa hay gặp nhất ở mùa xuân, cỏ hay gặp ở mùa hè. Bụi và những con mọt nhà có thể gây nên các triệu chứng quanh năm. Trên khám thực thể, niêm mạc của cuốn mũi thường xanh hoặc tím vì tĩnh mạch giãn, triệu chứng này khác với triệu chứng xung huyết trong viêm mũi do virus. Có thể thấy polip mũi, là khối mọng màu vàng nhợt do sự quá sản của niêm mạc.

Điều trị là điều trị triệu chứng gồm uống các thuốc giảm xung huyết (như pseudoephedrin, 60 - 120 mg uống 3 - 4 lần/ngày) thường có tác dụng, mặc dầu các thuốc kháng histamin có tác dụng đặc hiệu hơn vào cơ chế dị ứng. Các thuốc kháng histamin thông dụng gồm brompheniramin hoặc chlorpheniramin (4 mg uống 6 - 8 giờ 1 lần; hoặc 8 - 12 mg uống 8 - 12 giờ 1 lần khi dùng những viên giải phóng chậm), và clemastin (1,34 - 2,68mg uống 2 lần/ngày). Các thưốc kháng histamin có tác dụng kéo dài không gây ngủ như astemizol (10 mg uống hàng ngày), loratidin (10 mg uống hàng ngày) và terfenadin, 60mg uống 2 lần/ngày) tuy đắt nhưng có tác dụng rất tốt với những bệnh nhân không chịu được những cơn buồn ngủ do các nhóm thuốc khác gây nên. Astemizol và terfenadin có thể gây chết đột ngột do làm kéo dài QT, đặc biệt những ở bệnh nhận đang dùng erythromycin hoặc ketoconazol.

Các thuốc xịt mũi có corticosteroid như beclomethazon (42 mcg/lần xịt) và flunisolid (25 mcg/lần xịt) thường có tác dụng tốt nếu được dùng đúng. Những thuốc xịt này nên được dùng 2 lần mỗi mũi 2 lần/ngày trong 1 tháng. Ít bệnh nhân thực hiện đúng trừ những bệnh nhân biết rằng các triệu chứng thường không bắt đầu giảm ngay sau 1 - 2 tuần điều trị. Dùng steroid trong viêm mũi có vai trò với dị ứng theo mùa, có polip mũi, thường làm giảm các chỉ định phẫu thuật. Có thể dùng cromolyn ở mũi với tác dụng tốt, đặc biệt dùng trước khi nghỉ tiếp xúc với dị nguyên.

Giữ môi trường không có dị nguyên bằng cách bao bọc gối và đệm bằng túi nhựa, thay thế bằng các chất tổng hợp (gối, đệm xốp, acrylics) cho các sản phẩm động vật (như bông, lông...) và làm sạch bụi bám ở các vật cố định trong nhà (thảm, trải bàn, trải giường...) có tác dụng tốt đối với những bệnh nhân bị nặng.

Bộ phận tinh chế không khí và lọc bụi (như kiểu Bionair) cũng có thể giúp tạo nên môi trường không khí không có dị nguyên. Khi các triệu chứng rất nặng nề, việc tìm các dị nguyên gây bệnh có tác dụng tốt. Có thể dùng test da hoặc test RAST huyết thanh. Sự giảm mẫn cảm bằng cách tăng dần sự tiếp xúc dưới da với dị nguyên để nhận biết dị nguyên có thể được thử cho những bệnh với các kết quả khác nhau.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Bệnh lý ống tai (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật ống tai thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Những chất rắn có thể được lấy bằng vòng hoặc móc ráy, cần cẩn thận để tránh đẩy dị vật vào trong.

Tổn thương loét trong miệng (chẩn đoán và điều trị)

Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Viêm mũi dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Dùng steroid trong viêm mũi có vai trò với dị ứng theo mùa, có polip mũi, thường làm giảm các chỉ định phẫu thuật.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Bệnh lý vành tai (chẩn đoán và điều trị)

Cũng tương tự, những trường hợp bị viêm mô tế bào vành tai phải được điều trị ngay đề phòng sự tiến triển tới viêm màng sụn và các hậu quả biến dạng của nó.

Dị vật khí phế quản, thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật khí phế quản nên được lấy ra dưới gây mê toàn thân tiến hành bởi người có kinh nghiệm đặt ống nội khí quản phối hợp với người gây mê có kinh nghiệm.

Áp xe quanh amidan và viêm mô tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Trong một vài trường hợp có đề nghị chấp nhận cắt amidan ngay cùng với dẫn lưu áp xe và tránh sự tái phát. Cả hai cách đều hợp lý và được ủng hộ trong y văn.

U tuyến nước bọt (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết u của tuyến mang tai thể hiện như một khối không có triệu chứng ở phần ngoài của tuyến. Khối u có thể được bệnh nhân nhận thấy trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.

U thanh quản (chẩn đoán và điều trị)

Việc điều trị đòi hỏi thay đổi thói quen về nói và được coi là phương pháp điều trị giọng nói. Với các hạt không hồi phục có thể đòi hỏi phải phẫu thuật lấy bỏ.

Nghe kém (chẩn đoán và điều trị)

Nghe kém tiếp nhận là kết quả hư hại của ốc tai, thường do mất các tế bào lông của cơ quan Corti.

Cắt amidan (chẩn đoán và điều trị)

Hiện nay thấy rõ ràng là các bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan ngoại trú thường an an toàn nếu theo dõi trong thời gian 6 giờ mà không có biến có gì.

Viêm cấp và mạn tuyến nước bọt do loạn sản (chẩn đoán và điều trị)

Sinh bệnh học là sự tắc nghẽn các ống tuyến thường gây ra bởi sự cô đặc dịch nhầy gây bít tắc, tiếp theo sau là ứ nước bọt và nhiễm khuẩn thứ phát.

Xem theo danh mục