Các bệnh của hệ thống thính giác và tiền đình trung ương

Ngày: 3 - 9 - 2016

Chóng mặt do tổn thương trung ương có xu hướng thành mạn tính và nhẹ hơn là chóng mặt gặp trong các bệnh mê nhĩ.


Các tốn thương của dây VIII và đường dẫn truyền thính giác - tiền đình trung ương gây nên điếc thần kính và chóng mặt. Một đặc tính của điếc thần kinh là giảm sự phân biệt tiếng nói, mất tương ứng với giảm ngưỡng nghe đơn âm. Một đặc tính khác là sự thích ứng thính giác, thể hiện khi nghe một âm đều đều sẽ bị giảm dần và thậm chí biến mất. Đáp ứng kích thích điện thính giác có giá trị phân biệt điếc do ốc tai với điếc do thần kinh và có thể cho biết vị trí của tổn thương trong đường dẫn truyền trung ương.

Chóng mặt do tổn thương trung ương có xu hướng thành mạn tính và nhẹ hơn là chóng mặt gặp trong các bệnh mê nhĩ. Rung giật nhãn cầu đi kèm thường không phải do mệt mỏi, hướng của nó là hướng đứng nhiều hơn hướng ngang, không có thời gian tiếm tàng, và không ứng chế được bằng nhìn cố định. Điện ký rung giật nhãn cầu có giá trị ghi lại những đặc tính này. Để đánh giá sự rối loạn chức năng của thính giác - tiền đình trung ương thường yêu cầu chụp CT scan đầu hoặc MRI. Chất cản quang gadolinium - DTPA được dùng khi chụp MRI sẽ làm tăng độ chính xác trong chẩn đoán bệnh của thính giác tiền đình trung ương.

U bao sợi thần kinh tiền đình

Các khối u của góc cầu tiểu não, hầu hết là u dây thần kinh VIII, gây nên các triệu chứng của thính giác - tiền đình trung ương, u dây VIII thuộc nhóm các khối u nội sọ hay gặp nhất, u bao sợi thần kinh thường xuất phất từ nhánh tiền đình của dây VIII. Khi khối u cồn nhỏ, đôi khi cần lấy bỏ và bảo tồn sức nghe.

Khi khối u lớn cũng có thể lấy bỏ an toàn trong hầu hết các trường hợp nhưng liệt các dây thần kinh sọ não, đặc biệt là liệt dây thần kinh mặt và thần kinh nghe là di chứng thường gặp.

Tổn thuơng mạch máu

Thiếu máu hệ cột sống nền thường gây nên chóng mặt ở người già. Chóng mặt thường khởi phát do thay đổi tư thế hoặc căng cơ. Sự giảm lưu lượng của hệ cột sống - nền có thể dược chứng minh qua chụp cộng hưởng từ mạch. Điều trị theo kinh nghiệm là dùng thuốc giãn mạch, aspirin và luyện tập. Đau nửa đầu có thể gây nên những cơn chóng mặt, việc chẩn đoán sẽ rõ ràng nếu chóng mặt đi kèm với cơn nhức đầu điển hình, nhưng điều này thường không gặp ở mọi trường hợp. Những bệnh nhân có tiền sử cả đau nửa đầu và chóng mặt tái phát, điều trị thử bằng thuốc ức chế chẹn bệta adrenergic (propranolol, 80 - 240 mg uống 12 hoặc 24 giờ 1 lần) và ergotamin 1 mg 4 - 6 giờ uống 1 lần.

Các cung mạch chi phối cho thân não vào vùng của các dây thần kinh sọ não được cho là nguyên nhân gây rối loạn chức năng. Các trường hợp rõ ràng là co cứng nửa mật và chứng giật máy cơ đau. Người ta cho rằng nghe kém, ù tai và chóng mặt tư thế có thể do những cung mạch chi phối cho dây thần kinh VIII.

Xơ cúng rải rác

Hầu hết các bệnh nhân bị xơ cứng rải rác bị chóng mặt từng đợt và mất cân bằng mạn. Nghe kém trong bệnh này hầu hết là một bên và khởi phát nhanh. Bệnh có thể tự hồi phục.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Bệnh lý ống tai (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật ống tai thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Những chất rắn có thể được lấy bằng vòng hoặc móc ráy, cần cẩn thận để tránh đẩy dị vật vào trong.

Tổn thương loét trong miệng (chẩn đoán và điều trị)

Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Viêm mũi dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Dùng steroid trong viêm mũi có vai trò với dị ứng theo mùa, có polip mũi, thường làm giảm các chỉ định phẫu thuật.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Bệnh lý vành tai (chẩn đoán và điều trị)

Cũng tương tự, những trường hợp bị viêm mô tế bào vành tai phải được điều trị ngay đề phòng sự tiến triển tới viêm màng sụn và các hậu quả biến dạng của nó.

Dị vật khí phế quản, thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật khí phế quản nên được lấy ra dưới gây mê toàn thân tiến hành bởi người có kinh nghiệm đặt ống nội khí quản phối hợp với người gây mê có kinh nghiệm.

Áp xe quanh amidan và viêm mô tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Trong một vài trường hợp có đề nghị chấp nhận cắt amidan ngay cùng với dẫn lưu áp xe và tránh sự tái phát. Cả hai cách đều hợp lý và được ủng hộ trong y văn.

U tuyến nước bọt (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết u của tuyến mang tai thể hiện như một khối không có triệu chứng ở phần ngoài của tuyến. Khối u có thể được bệnh nhân nhận thấy trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.

U thanh quản (chẩn đoán và điều trị)

Việc điều trị đòi hỏi thay đổi thói quen về nói và được coi là phương pháp điều trị giọng nói. Với các hạt không hồi phục có thể đòi hỏi phải phẫu thuật lấy bỏ.

Nghe kém (chẩn đoán và điều trị)

Nghe kém tiếp nhận là kết quả hư hại của ốc tai, thường do mất các tế bào lông của cơ quan Corti.

Cắt amidan (chẩn đoán và điều trị)

Hiện nay thấy rõ ràng là các bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan ngoại trú thường an an toàn nếu theo dõi trong thời gian 6 giờ mà không có biến có gì.

Viêm cấp và mạn tuyến nước bọt do loạn sản (chẩn đoán và điều trị)

Sinh bệnh học là sự tắc nghẽn các ống tuyến thường gây ra bởi sự cô đặc dịch nhầy gây bít tắc, tiếp theo sau là ứ nước bọt và nhiễm khuẩn thứ phát.

Xem theo danh mục