U thanh quản (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 10 - 9 - 2016

Việc điều trị đòi hỏi thay đổi thói quen về nói và được coi là phương pháp điều trị giọng nói. Với các hạt không hồi phục có thể đòi hỏi phải phẫu thuật lấy bỏ.


U thanh quản lành tính

Những hạt nhẵn ở dây thanh âm, thương tổn thành cặp, hình thành ở chỗ nối của 1/3 trước và 2/3 sau của dây thanh âm.

Những thương tổn này là nguyên nhân thường gây nên khàn tiếng do nói quá nhiều. Ở người trưởng thành chúng được gọi là "hạt ca sĩ", ở trẻ em được gọi là "hạt la hét"!

Việc điều trị đòi hỏi thay đổi thói quen về nói và được coi là phương pháp điều trị giọng nói. Với các hạt không hồi phục có thể đòi hỏi phải phẫu thuật lấy bỏ.

Dạng polip thay đổi của dây thanh âm có thể do nói quá nhiều, hút thuốc lá hoặc kích thích do hóa chất trong công nghiệp hoặc có thể gặp trong bệnh suy tuyến giáp trạng.

Chú ý tớì các vấn đề này có thể giải quyết được các dạng polip dây thanh âm.

Bơm xịt steroid như beclomethason, 42mcg/lần hoặc dexamethason 84mcg/lần, 2 đến 3 lần/ngày có thể thúc đẩy sự phân giải, đồng thời loại bỏ quá sản niêm mạc dây thanh âm.

Một nguyên nhân thường gặp nhưng không được nhận ra của khàn tiếng là vết loét tiếp xúc với sụn nhẫn, thứ phát do trào ngựợc thực quản. Điều trị trào ngược bằng thuốc kháng acid hoặc thuốc chẹn cảm thụ H2 ví dụ uống cimetidin 800mg/ngày hoặc 300mg/ngày hoặc 150mg/lần ngày 2 lần; để cao đầu bệnh nhân khi ngủ thường có hiệu quả.

U hạt do đặt ống nội khí quản cũng có thể thấy muộn về sau.

Bạch sản thanh quản

Bạch sản thanh quản là nguyên nhân thường gặp gây khàn tiếng và gặp nhiều nhất ở người hút thuốc. Người ta khuyên nên sinh thiết trực tiếp thanh quản, việc kiểm tra tổ chức học thường chỉ ra các trường hợp bạch sản nhẹ, trung bình hoặc nặng.

Ngừng hút thuốc có thể giữ cho bạch sản không thay đổi. Một vài phần trăm (ước tính dưới 5%) những người bị loạn sản trung bình và 35 - 60% bị loạn sản nặng sẽ phát triển thành ung thư thế bào vảy.

Trong một số trương hợp sự lan rộng của ung thư tế bào vảy thấy có ngay ở lần sinh thiết đầu.

Ung thư tế bào vảy của thanh quản

Ung thư tế bào vảy là loại hay gặp nhất trong số các loại ung thư thanh quản.

Nó hay xảy ra ở những người hút thuốc lá nhiều và uống rượu, được coi là những tác nhân ung thư. Thường gặp ở lứa tuổi 50 - 70. Khàn tiếng là triệu chứng thường có, bất kỳ bệnh nhân nào khàn tiếng trên 2 - 3 tuần nên soi thanh quản trực tiếp. Nuốt đau, ho ra máu, sút cân, đau lan lên tai, cố định của dây thanh âm, có hạch cổ là gợi ý bệnh tiến triển nhanh.

Khi phát hiện sớm ung thư tế bào vảy thì tốt nhất là điều trị bằng tia xạ, tỉ lệ điều trị khỏi từ 85 - 95%. Phẫu thuật bảo tồn hoặc cắt thanh quản toàn phần là cần thiết khi điều trị tia xạ thất bại hoặc khi bệnh tiến triển nhanh. Ngày nay việc dùng van khí - thực quản sau cắt thanh quản toàn phần duy trì được phát âm cho hầu hết bệnh nhân sau cắt thanh quản.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Bệnh lý ống tai (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật ống tai thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Những chất rắn có thể được lấy bằng vòng hoặc móc ráy, cần cẩn thận để tránh đẩy dị vật vào trong.

Tổn thương loét trong miệng (chẩn đoán và điều trị)

Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Viêm mũi dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Dùng steroid trong viêm mũi có vai trò với dị ứng theo mùa, có polip mũi, thường làm giảm các chỉ định phẫu thuật.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Bệnh lý vành tai (chẩn đoán và điều trị)

Cũng tương tự, những trường hợp bị viêm mô tế bào vành tai phải được điều trị ngay đề phòng sự tiến triển tới viêm màng sụn và các hậu quả biến dạng của nó.

Dị vật khí phế quản, thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật khí phế quản nên được lấy ra dưới gây mê toàn thân tiến hành bởi người có kinh nghiệm đặt ống nội khí quản phối hợp với người gây mê có kinh nghiệm.

U tuyến nước bọt (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết u của tuyến mang tai thể hiện như một khối không có triệu chứng ở phần ngoài của tuyến. Khối u có thể được bệnh nhân nhận thấy trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.

Áp xe quanh amidan và viêm mô tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Trong một vài trường hợp có đề nghị chấp nhận cắt amidan ngay cùng với dẫn lưu áp xe và tránh sự tái phát. Cả hai cách đều hợp lý và được ủng hộ trong y văn.

U thanh quản (chẩn đoán và điều trị)

Việc điều trị đòi hỏi thay đổi thói quen về nói và được coi là phương pháp điều trị giọng nói. Với các hạt không hồi phục có thể đòi hỏi phải phẫu thuật lấy bỏ.

Nghe kém (chẩn đoán và điều trị)

Nghe kém tiếp nhận là kết quả hư hại của ốc tai, thường do mất các tế bào lông của cơ quan Corti.

Cắt amidan (chẩn đoán và điều trị)

Hiện nay thấy rõ ràng là các bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan ngoại trú thường an an toàn nếu theo dõi trong thời gian 6 giờ mà không có biến có gì.

Viêm cấp và mạn tuyến nước bọt do loạn sản (chẩn đoán và điều trị)

Sinh bệnh học là sự tắc nghẽn các ống tuyến thường gây ra bởi sự cô đặc dịch nhầy gây bít tắc, tiếp theo sau là ứ nước bọt và nhiễm khuẩn thứ phát.

Xem theo danh mục