Các rối loạn thanh quản hay gặp (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 10 - 9 - 2016

Nếu người lớn bị viêm thanh thiệt được phát hiện sớm có thể tránh được đặt ống nội khí quản, trong những trường hợp này theo dõi nồng độ bão hòa oxy huyết cầu tố bằng máy đo oxy.


Viêm thanh thiệt

Nên nghĩ đến viêm thanh thiệt ở người lớn khi có nuốt đau mà không thấy tổn thương nào ở họng. Bệnh có thể do virus hoặc vi khuẩn. Khác với ở trẻ nhỏ, soi thanh quản gián tiếp thường là an toàn và có thể thấy thanh thiệt sưng nề, xung huyết. Điều trị đầu tiên là cho nằm viện, tiêm truyền kháng sinh (ceftizoxim 1 - 2g tiêm tĩnh mạch 8 - 12 giờ/lần, hoặc cefuroxim 750 - 1500 mg tiêm tĩnh mạch 8 - 12 giờ/lần) và dexamethason, thường 4 - 10mg uống lúc đầu sau đó 4 mg tiêm tĩnh mạch 6 giờ/lần) và theo dõi đường thở. Steroid có thể làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng. Tương tự, thay thế kháng sinh theo đường uống có thể dùng đủ liều trong 10 ngày.

Nếu người lớn bị viêm thanh thiệt được phát hiện sớm có thể tránh được đặt ống nội khí quản, trong những trường hợp này theo dõi nồng độ bão hòa oxy huyết cầu tố bằng máy đo oxy.

U nhú thanh quản

U nhú là những tổn thương thường gặp ở thanh quản và những vị trí khác nơi có tế bào lông chuyển và tế bào biểu mô lát tầng gặp nhau. Không giống như ở trong khoang miệng, trong thanh quản bệnh thường có triệu chứng khàn tiếng, tiến triển tới thở rít sau vài tuần đến vài tháng. Bệnh thường gặp nhiều ở trẻ em nhưng cũng có thể gặp ở người lớn. Thường cần thiết lấy bỏ bằng tia laser nhiều lần qua đường soi thanh quản trực tiếp. Nên tránh mở khí quản nếu có thể được vì nó thường tạo nên ranh giới tế bào vẩy có lông chuyển là nơi papiloma thích phát triển.

Viêm thanh quản cấp

Viêm thanh quấn cấp là nguyên nhân hay gặp nhất gây khàn tiếng. Bệnh có thể kéo dài trong một tuần hoặc đến sau khi các triệu chứng viêm đường hô hấp trên đã hết. Khuyên bệnh nhân tránh nói nhiều, nói to, mạnh (hát, hét) khi bị viêm thanh quản vì điều này có thể tạo nên hạt xơ dây thanh âm. Mặc dầu người ta cho rằng viêm thanh quản thường do virus nhưng cả M. catarrhalis và H. influenzae có thể phân lập được ở mũi họng với tỷ lệ cao hơn các tần suất dự kiến và erythromycin có thể làm giảm mức độ nặng của khàn tiếng và ho.

Trào nguợc dạ dày - thục quản và khàn tiếng

Trào ngược dạ dày - thực quản dẫn đến viêm thanh quản được coi là một nguyên nhân gây khàn tiếng mạn tính.

Gần nửa số bệnh nhân được ghi nhận bị trào ngược có triệu trứng điển hình gồm rát bỏng và ợ, trớ nhưng khi thiếu những triệu trứng đó không thể coi là loại trừ được nguyên nhân này. Theo dõi bệnh nhân ngay từ đầu để loại trừ các bệnh thanh quản nặng hơn.

Theo dõi độ pH của họng cũng như của thực quản trong 24 giờ là biện pháp chẩn đoán tốt nhất đối với trào ngược. Một thử nghiệm lâm sàng về biện pháp chống trào ngược thích hợp trong một thời gian đầy đủ đã được công nhận như một trong cách lựa chọn. Nếu thử nghiệm lâm sàng được lựa chọn, chúng ta nhớ lại rằng hiệu qủa của omeprazol và các chất ức chế bơm proton khác nhanh hơn cimetidin hay ranitidin và các chất ức chế bơm proton có vẻ đạt tới 90% hiệu quả lâm sàng trong khi đó các chất đối kháng cảm thụ H2 chỉ có hiệu quả trong khoảng 70% các trường hợp.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Bệnh lý ống tai (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật ống tai thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Những chất rắn có thể được lấy bằng vòng hoặc móc ráy, cần cẩn thận để tránh đẩy dị vật vào trong.

Tổn thương loét trong miệng (chẩn đoán và điều trị)

Viêm lợi miệng do herpes là thường gặp, bệnh nhẹ, diễn biến trong thời gian ngắn và không cần can thiệp gì ở hầu hết bệnh nhân là người lớn.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Viêm mũi dị ứng (chẩn đoán và điều trị)

Dùng steroid trong viêm mũi có vai trò với dị ứng theo mùa, có polip mũi, thường làm giảm các chỉ định phẫu thuật.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Bệnh lý vành tai (chẩn đoán và điều trị)

Cũng tương tự, những trường hợp bị viêm mô tế bào vành tai phải được điều trị ngay đề phòng sự tiến triển tới viêm màng sụn và các hậu quả biến dạng của nó.

Dị vật khí phế quản, thực quản (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật khí phế quản nên được lấy ra dưới gây mê toàn thân tiến hành bởi người có kinh nghiệm đặt ống nội khí quản phối hợp với người gây mê có kinh nghiệm.

Áp xe quanh amidan và viêm mô tế bào (chẩn đoán và điều trị)

Trong một vài trường hợp có đề nghị chấp nhận cắt amidan ngay cùng với dẫn lưu áp xe và tránh sự tái phát. Cả hai cách đều hợp lý và được ủng hộ trong y văn.

U tuyến nước bọt (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết u của tuyến mang tai thể hiện như một khối không có triệu chứng ở phần ngoài của tuyến. Khối u có thể được bệnh nhân nhận thấy trong nhiều tháng hoặc nhiều năm.

U thanh quản (chẩn đoán và điều trị)

Việc điều trị đòi hỏi thay đổi thói quen về nói và được coi là phương pháp điều trị giọng nói. Với các hạt không hồi phục có thể đòi hỏi phải phẫu thuật lấy bỏ.

Cắt amidan (chẩn đoán và điều trị)

Hiện nay thấy rõ ràng là các bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan ngoại trú thường an an toàn nếu theo dõi trong thời gian 6 giờ mà không có biến có gì.

Nghe kém (chẩn đoán và điều trị)

Nghe kém tiếp nhận là kết quả hư hại của ốc tai, thường do mất các tế bào lông của cơ quan Corti.

Viêm cấp và mạn tuyến nước bọt do loạn sản (chẩn đoán và điều trị)

Sinh bệnh học là sự tắc nghẽn các ống tuyến thường gây ra bởi sự cô đặc dịch nhầy gây bít tắc, tiếp theo sau là ứ nước bọt và nhiễm khuẩn thứ phát.

Xem theo danh mục