U nấm (Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma)


Ngày: 30 - 5 - 2016

Tất cả các thuốc khác có thể nên dùng trong nhiều tháng và tiếp tục dùng trong vài tháng sau khi triệu chứng lâm sàng được cải thiện để dự phòng tái phát. Phẫu thuật mở rộng giúp cho sự liền sẹo.

Các nhiễm trùng do nấm được coi là có vị trí quan trọng và ngày càng gia tăng do việc sử dụng rộng rãi các kháng sinh phổ rộng và số lượng bệnh nhân suy giảm miêm dịch tăng lên. Một số tác nhân gậy bệnh (cryptoccus, Candida, Pneumocystis, fusarium) không bao giờ gây bệnh nặng ở những người bình thường. Các nấm gây bệnh lưu hành khác (histoplasma, coccidioides Paracoccidioides) là nguyên nhân gây bệnh thường gặp ở những người bình thường, nhưng nó có xu hướng gây bệnh nặng ở những người rối loạn miễn dịch.

Maduromycosis là từ dùng để mô tả u (mycetoma) gây ra bởi một loại nấm đích thực, u nấm kiểu nấm tia là do các loài nocardia và actinomadura gây ra. Ban đầu bệnh biểu hiện bằng các nốt sần, nổi cục hoặc áp xe tiến triển chậm từ vài tháng đến nhiều năm để hình thành nhiều ổ áp xe và các đường xoang phân bố sâu vào trong tổ chức. Nhiễm khuẩn thứ phát có thể từ các vết loét lớn. Chụp X quang có thể thấy sự thay đổi do phá hủy trong xương. Các yếu tố xảy ra như các u hạt màu trắng, vàng, đỏ hoặc đen trong tổ chức hoặc mủ. Xét nghiệm vi thể giúp ích cho chẩn đoán.

Tiên lượng tốt nhất với bệnh nhân mắc u nấm tia, họ thường đáp ứng tốt với Sulfonamid vầ sulfon đặc biệt là nếu được điều trị sớm. Trimethoprim - Sulfamethoxazol 160/800 mg, uống 2 lần/ngày hoặc dapson 100 mg, lần/ngày sau bữa ăn cứng rất có hiệu quả. streptomycin 14 mg/kg/ngày, tiêm bắp có thể sử dụng trong tháng đầu của điều trị. Tất cả các thuốc khác có thể nên dùng trong nhiều tháng và tiếp tục dùng trong vài tháng sau khi triệu chứng lâm sàng được cải thiện để dự phòng tái phát. Phẫu thuật mở rộng giúp cho sự liền sẹo.

Tiên lượng xấu đối với maduromycosis mặc dù mổ rạch rộng và điều trị kéo dài bằng ketoconazol hoặc itraconazol có thể đáp ứng khoảng 70% số trường hợp. Cần thiết phải cắt chi với các trường hợp bệnh tiến triển nặng hơn.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh phổi do nấm Pneumocystis carinii (chẩn đoán và điều trị)

Nói chung hiện nay người ta coi Pneumocystis carinii là một loại nấm. Nó có thể tìm thấy trong phổi của những vật nuôi khác nhau ở trong nhà, ở động vật có vú hoang dại và phân bố trên khắp thế giới ở người.

Bệnh nấm Candida (chẩn đoán và điều trị)

Điều quan trọng cần nhớ là các chủng không phải là albicans của họ Candida thường kháng lại với kháng sinh thuộc nhóm imidazol như fluconazol.

Bệnh nấm Aspergillus fumigatus (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm Aspergillus xâm nhiễm và đe doạ tính mạng hay xẩy ra nhất ở các bệnh nhân suy giảm miễm dịch trầm trọng, đặc biệt là những bệnh nhân giảm bạch cầu nặng kéo dài.

Bệnh nấm Cryptococcus neoformans (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm Crytococcus là do nấm Cryptococcus neoformans gây ra, đây là một loại nấm mốc có vỏ bọc và được tìm thấy ở khắp mọi nơi trên thế giới, trong đất và trong phân khô của chim bồ câu.

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội

Trong các tổ chức của bệnh nhân bị bệnh nấm sợi đen, nấm có mầu đen hoặc mầu nâu nhạt, tế bào nấm đen hoặc cả hai. Cấy trên môi trường thích hợp là cần thiết để xác định tác nhân gây bệnh.

Nhiễm nấm da kéo dài (chẩn đoán và điều trị)

Loại nấm này được thấy có mầu nâu, thành dày, hình cầu, đôi khi tế bào có vách ngăn và có mủ ở trong. Khi nuôi cấy lập lại dạng này sẽ giúp quyết định được chủng nấm.

Bệnh nấm Mucor (chẩn đoán và điều trị)

Chẩn đoán nên được đặt ra ở các bệnh nhân đái tháo đường có nhiễm toan với tổn thương hoại tử đen ở mũi hoặc ở xoang hoặc các bất thường của hệ thần kinh sọ não mới xuất hiện.

Các nhiễm trùng do Penicillium marneffei (chẩn đoán và điều trị)

Penicillium marneffei là loại nấm lưỡng hình, lưu hành ở Đông Nam Á, gây nhiễm trùng hệ thống ở cả người khoẻ mạnh và người bị rối loạn miên dịch.

Bệnh nấm Coccidioides immitis (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm coccidioides immitis có thể được gợi ý tới trong chẩn đoán của một bệnh chưa biết rõ ở một bệnh nhân đã từng sống hoặc đi tới vùng dịch tễ.

Bệnh nấm Histoplasma (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các trường hợp nhiễm histoplasma đều không có triệu chứng hoặc triệu chứng ít và vì thế nên không được phát hiện. Các nhiễm trùng trong quá khứ được nhận ra bằng các test da dương tính với histoplasmin.

Bệnh nấm Blastomyces (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm blastomyces thường xẩy ra ở nam giớii và ở cấc vùng địa lý giới hạn thuộc trung tâm phía nam và giữa tây nước Mỹ và Canada. Một số ít trường hợp được thấy ở Mexico và châu Phi.

Bệnh nấm Sporotrichum (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm Sporotrichum lan toả thường hiếm thấy ở những vật chủ có khả năng miễn dịch nhưng có thể xuất hiện các triệu chứng ở phổi, xương, khớp và hệ thống thần kinh trung ương ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch.

Bệnh nấm Blastomyces vùng nam mỹ (paracocci Dioimomycosis)

Nhiễm trùng nấm Paracoccidioides brasiliesis chỉ tìm thấy ở những bệnh nhân sống ở Nam và Trung Mỹ hoặc Mexico, vì có một giai đoạn dài không có dấu hiệu đặc trưng khiến cho các bệnh nhân du lịch đến nơi xa vùng dịch tễ mới phát hiện các dấu hiệu lâm sàng.

U nấm (Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma)

Tất cả các thuốc khác có thể nên dùng trong nhiều tháng và tiếp tục dùng trong vài tháng sau khi triệu chứng lâm sàng được cải thiện để dự phòng tái phát. Phẫu thuật mở rộng giúp cho sự liền sẹo.