Bệnh nấm Aspergillus fumigatus (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 30 - 5 - 2016

Bệnh nấm Aspergillus xâm nhiễm và đe doạ tính mạng hay xẩy ra nhất ở các bệnh nhân suy giảm miễm dịch trầm trọng, đặc biệt là những bệnh nhân giảm bạch cầu nặng kéo dài.


Các nhiễm trùng do nấm được coi là có vị trí quan trọng và ngày càng gia tăng do việc sử dụng rộng rãi các kháng sinh phổ rộng và số lượng bệnh nhân suy giảm miêm dịch tăng lên. Một số tác nhân gậy bệnh (cryptoccus, Candida, Pneumocystis, fusarium) không bao giờ gây bệnh nặng ở những người bình thường. Các nấm gây bệnh lưu hành khác (histoplasma, coccidioides Paracoccidioides) là nguyên nhân gây bệnh thường gặp ở những người bình thường, nhưng nó có xu hướng gây bệnh nặng ở những người rối loạn miễn dịch.

Aspergillus fumigatus là nguyên nhân thường gặp của bệnh nấm aspergillus, tuy nhiên có nhiều chủng aspergillus có thể gây ra rất nhiễu loại bệnh. Sẹo bông và tổn thương ống tai ngoài có thể là do loại nấm này. Biểu hiện lâm sàng là kết quả do sự sai lệch đáp ứng miễn dịch hoặc do xâm nhiễm tổ chức.

Bệnh nấm Aspergillus phế quản phổi dị ứng xẩy ra ở những bệnh nhân đã có bệnh hen tồn tại trước đó, gây co thắt phế quản nhiều hơn và thâm nhiễm phổi rất nhanh kèm theo với tăng bạch cầu ưa acid, nồng độ IgE tăng cao và tủa aspergillus trong máu. Nó có thể gây ra biến chứng xơ các nang. Bệnh đặc trưng là diễn biến tăng hoặc giảm sự cải thiện dần sau một thời gian nhưng nó có thể gây nên giãn phế quản hình túi và bệnh phổi xơ hóa giai đoạn cuối, với các đợt tiến triển cấp, dùng prednison đường uống, bắt đầu bằng liều 1 mg/kg/ngày và sau đó giảm liều từ từ trong nhiều tháng. Thuốc chống nấm không có vai trò trong việc điều trị các dị ứng do aspergillus bởi vì bệnh được gây ra do phản ứng miễn dịch với nấm và không liên quan tới việc xâm nhiễm tổ chức.

Những biểu hiện xâm nhiễm có thể thấy ở người có khả năng miễn dịch bao gồm các trường hợp viêm xoang mạn tính và các aspergillus này kí sinh trong các hang phổi đã có trước (tạo thành khối u nấm aspergillus - aspergilloma). Bệnh xoang có thể cần được điều trị kháng sinh kéo dài (itraconazol 200 mg x 2 lần/ngày, kéo dài trong vài tuần đến vài tháng) cũng như là phẫu thuật mổ xoang. Các u do nấm aspergillus ở phổi đôi khi thấy trong các phim X quang nhưng có thể biểu hiện dưới dạng khạc ra máu đáng kể. Amphotericin B rỏ giọt vào các xoang và điều trị nội soi phế quản đã được thử nghiệm nhưng ít kết quả; một số thử nghiệm không kiểm soát đã cho thấy lợi ích của itraconazol. Điều trị có hiệu quả nhất với u nấm aspergillus có triệu chứng hiện vẫn là phương pháp cắt bỏ u.

Bệnh nấm Aspergillus xâm nhiễm và đe doạ tính mạng hay xẩy ra nhất ở các bệnh nhân suy giảm miễm dịch trầm trọng, đặc biệt là những bệnh nhân giảm bạch cầu nặng kéo dài. Các bệnh nhân mắc bệnh AIDS tiến triển có thể có nguy cơ mắc aspergillus xâm nhiễm, đặc biệt nếu như họ có các yếu tố nguy cơ khác đối với bệnh. Biểu hiện ở phổi thường hay gặp nhất với thâm nhiễm không đồng nhất dẫn đến bệnh phổi hoại tử nặng. Thường có nhồi máu tể chức khi nấm phát triển vào trong mạch máu - nguyên nhân gây ra sự phát triển của đau ngực là do căng màng phổi và tăng cao LDH trong huyết thanh. Các bệnh nhân AIDS cũng có xu hướng bị viêm khí phế quản phổi loét duy nhất và có thể cùng tồn tại với bệnh nhu mô phổi. Vào bất kỳ thời điểm nào cũng có thể có hiện tượng lan toả đến hệ thần kinh trung ương, da và các tổ chức khác. Chẩn đoán sớm và điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch là chủ yếu. Cấy máu cho kết quả rất chậm. Ngược lại với bệnh nấm asperigllus dị ứng, test huyết thanh và phát hiện kháng nguyên có độ nhậy tháp đối với bệnh xâm lấn. Phân lập aspergillus từ các dịch tiết của phổi là không cần thiết đối với bệnh xâm nhiễm. Vì vậy điều quyết định của chẩn đoán là chứng minh aspergillus trong tổ chức, về mặt mô học, người ta thấy sợi nấm có nhánh. Các mẫu sinh thiết sẽ có nấm mọc.

Khi aspergillus xâm nhiễm nặng được phát hiện trên lâm sàng hoặc có thể chứng minh bằng sinh thiết cần dùng ngay liều cao amphotericin B thì có thể cứu sống được bệnh nhân. Tổng liều hàng ngày tăng nhanh từ 0,8 - 1,5 mg/kg/ngày đường tĩnh mạch, bệnh nhân có thể chịu đựng được trong vài tuần đầu, sau đó với liều quy định là 0,6 mg/kg/ngày tiếp tục cho đến khi tổng liều đạt được ít nhất là 2g. Chưa thấy lợi ích rõ ràng khi dùng thêm flucytosin. Itraconazol đường uống với liều 200 - 400 mg/ngày có hiệu quả chống nấm aspergillus và kinh nghiệm trên lâm sàng ban đầu thấy thuận lợi với trường hợp bệnh ít nặng hơn. Cho tới khi có thêm những dữ kiện thì hiện nay amphotericin B nên được dùng là thuốc hàng đầu cho các bệnh xâm nhiễm. Dù sao thì tỷ lệ tử vong của bệnh phổi hoặc bệnh lan toả ở bệnh nhân có sự thay đổi miễn dịch vẫn chiếm trên 50 %.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh phổi do nấm Pneumocystis carinii (chẩn đoán và điều trị)

Nói chung hiện nay người ta coi Pneumocystis carinii là một loại nấm. Nó có thể tìm thấy trong phổi của những vật nuôi khác nhau ở trong nhà, ở động vật có vú hoang dại và phân bố trên khắp thế giới ở người.

Bệnh nấm Candida (chẩn đoán và điều trị)

Điều quan trọng cần nhớ là các chủng không phải là albicans của họ Candida thường kháng lại với kháng sinh thuộc nhóm imidazol như fluconazol.

Bệnh nấm Aspergillus fumigatus (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm Aspergillus xâm nhiễm và đe doạ tính mạng hay xẩy ra nhất ở các bệnh nhân suy giảm miễm dịch trầm trọng, đặc biệt là những bệnh nhân giảm bạch cầu nặng kéo dài.

Bệnh nấm Cryptococcus neoformans (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm Crytococcus là do nấm Cryptococcus neoformans gây ra, đây là một loại nấm mốc có vỏ bọc và được tìm thấy ở khắp mọi nơi trên thế giới, trong đất và trong phân khô của chim bồ câu.

Nhiễm nấm da kéo dài (chẩn đoán và điều trị)

Loại nấm này được thấy có mầu nâu, thành dày, hình cầu, đôi khi tế bào có vách ngăn và có mủ ở trong. Khi nuôi cấy lập lại dạng này sẽ giúp quyết định được chủng nấm.

Một số dạng nấm gây nhiễm trùng cơ hội

Trong các tổ chức của bệnh nhân bị bệnh nấm sợi đen, nấm có mầu đen hoặc mầu nâu nhạt, tế bào nấm đen hoặc cả hai. Cấy trên môi trường thích hợp là cần thiết để xác định tác nhân gây bệnh.

Bệnh nấm Coccidioides immitis (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm coccidioides immitis có thể được gợi ý tới trong chẩn đoán của một bệnh chưa biết rõ ở một bệnh nhân đã từng sống hoặc đi tới vùng dịch tễ.

Các nhiễm trùng do Penicillium marneffei (chẩn đoán và điều trị)

Penicillium marneffei là loại nấm lưỡng hình, lưu hành ở Đông Nam Á, gây nhiễm trùng hệ thống ở cả người khoẻ mạnh và người bị rối loạn miên dịch.

Bệnh nấm Mucor (chẩn đoán và điều trị)

Chẩn đoán nên được đặt ra ở các bệnh nhân đái tháo đường có nhiễm toan với tổn thương hoại tử đen ở mũi hoặc ở xoang hoặc các bất thường của hệ thần kinh sọ não mới xuất hiện.

Bệnh nấm Histoplasma (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các trường hợp nhiễm histoplasma đều không có triệu chứng hoặc triệu chứng ít và vì thế nên không được phát hiện. Các nhiễm trùng trong quá khứ được nhận ra bằng các test da dương tính với histoplasmin.

Bệnh nấm Sporotrichum (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm Sporotrichum lan toả thường hiếm thấy ở những vật chủ có khả năng miễn dịch nhưng có thể xuất hiện các triệu chứng ở phổi, xương, khớp và hệ thống thần kinh trung ương ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch.

Bệnh nấm Blastomyces (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm blastomyces thường xẩy ra ở nam giớii và ở cấc vùng địa lý giới hạn thuộc trung tâm phía nam và giữa tây nước Mỹ và Canada. Một số ít trường hợp được thấy ở Mexico và châu Phi.

Bệnh nấm Blastomyces vùng nam mỹ (paracocci Dioimomycosis)

Nhiễm trùng nấm Paracoccidioides brasiliesis chỉ tìm thấy ở những bệnh nhân sống ở Nam và Trung Mỹ hoặc Mexico, vì có một giai đoạn dài không có dấu hiệu đặc trưng khiến cho các bệnh nhân du lịch đến nơi xa vùng dịch tễ mới phát hiện các dấu hiệu lâm sàng.

U nấm (Mycetoma, Maduromycosis và Actinomycetoma)

Tất cả các thuốc khác có thể nên dùng trong nhiều tháng và tiếp tục dùng trong vài tháng sau khi triệu chứng lâm sàng được cải thiện để dự phòng tái phát. Phẫu thuật mở rộng giúp cho sự liền sẹo.