Thiếu máu trong bệnh mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 2016-11-10

Việc chẩn đoán nhầm thiếu máu thiếu sát có thể xảy ra nếu hiện tượng tăng quá mức được thay thế bằng sắt huyết thanh giảm.


Tiếp cận tổng quát về thiếu máu

Có thiếu máu ở người trưởng thành như hematocrit thấp hơn 4.1% (Hb < 13,5 g/dL) ở nam hay 37% (Hb < 12 g/dL) ở nữ. Dựa vào bệnh sử, nghĩ đến thiếu máu bẩm sinh khi có tiền sử cá nhân và gia đình. Dinh dưỡng thiếu thốn gây thiếu acid folic và có thể tham gia vào thiếu sắt. Phải luôn luôn nghĩ đến thiếu sắt khi có chảy máu. Thăm khám thực thể bao gồm chú ý cẩn thận đến các dấu hiệu của những bệnh máu tiên phát (các bệnh ở hạch, gan lách to hay tủy xương suy kém). Những thay đổi niêm mạc như lưỡi nhẵn bóng đưa ra khả năng thiếu máu hồng cầu khổng lồ.

Thiếu máu được phân loại tùy theo cơ sở sinh lí bệnh của chúng nghĩa là hoặc liên quan đến giảm sản xuất hoặc tăng mất hồng cầu hay tùy theo kích thước tế bào. Các khả năng chẩn đoán khi có thiếu máu hồng cầu nhỏ là thiếu sắt, bệnh thalassemia và thiếu máu trong những bệnh mạn tính. Thiếu máu hồng cầu nhỏ nhiều (Mean Cell volume - MCV - thể tích trung bình hồng câu < 70 fL) thường là do hoặc thiếu sát hoặc do thalassemia. Thiếu máu hồng cầu to có thể do hoặc nguyên hồng cầu khổng lò (thiếu folat hay vitamin B12) hoặc do những nguyên nhân không phải nguyên hồng cầu khổng lồ. Thiếu máu hồng cầu to quá (MCV > 125 fL) phần lớn do những nguyền nhân nguyên hồng cầu khổng lồ; cá biệt do hội chứng rối loạn tủy hoặc trước hay sau hóa trị liệu.

Nhiều bệnh hệ thống mạn tính thường có thiếu máu vừa hay nhẹ. Những nguyên nhân phổ biến bao gồm nhiễm khuẩn mạn hay viêm nhiễm, ung thư và bệnh gan. Thiếu máu trong bệnh viêm thận mạn tính có phần nào khác về sinh lí bệnh học và thường là nặng hơn nhiều.

Đời sống hồng cầu bị giảm nhẹ và tủy xương không bù trừ đầy đủ bằng sản xuất tăng hồng cầu chủ yếu là do tồn đọng sắt ở trong hệ thống liên võng nội mô. Tình trạng giảm erythropoietin ít khi là nguyên nhân quan trọng gây sản xuất dưới mức hồng cầu từ trong suy thận, khi đó erythropoietin giảm là một quy luật.

Triệu chứng và dấu hiệu

Những nét đặc biệt lâm sàng cũng chính những nét đặc biệt của thiếu máu. Nghi ngờ chẩn đoán khi bệnh nhân có những bệnh mạn tính đã biết và được xác định bởi các phát hiện sắt huyết thanh thấp, TIBC thấp và ferritin huyết thanh bình thường hay tăng (hoặc dự trữ sắt trong tủy xương bình thường hay tăng). Trong trường hợp thiếu máu đáng kể, có thể nghi thiếu cả sắt lẫn acid folic. Chế độ ăn thiếu folat hay sắt thường thấy ở những bệnh nhân ốm yếu này và nhiều người đáng bị mất máu ở dạ dày - ruột. Những bệnh nhân đang thẩm phân máu thường xuyên mất cả sắt lẫn folat trong khi thẩm phân.

Xét nghiệm labo

Hematocrit ít khi xuống dưới 25% (trừ khi suy thận). MCV thường là bình thường nhưng có thể giảm nhẹ. Hình thái hồng cầu không giúp cho chẩn đoán. Số lượng hồng cầu lưới không giảm cũng không tăng rõ rệt. Cả trị số sắt huyết thanh và TIBC đều giảm một cách đặc hiệu. Trị số sắt huyết thanh có thể không đo được và độ bão hoà transterrin có thể rất thấp. Việc chẩn đoán nhầm thiếu máu thiếu sát có thể xảy ra nếu hiện tượng tăng quá mức được thay thế bằng sắt huyết thanh giảm. Sắt huyết thanh thấp và tỉ lệ phần trăm bão hoà chỉ được chẩn đoán thiếu sắt khi TIBC cũng tăng: Trái với thiếu sắt, trị số ferritin huyết thanh là bình thường hay tăng. Trị số sắt huyết thanh dưới 25 µg/L gợi ý là có thiếu sất cùng tồn tại.

Điều trị

Trong đa số các trường hợp không cần điều trị gì. Tuy nhiên, một vài trường hợp cần truyền hồng cầu để điều trị triệu chứng thiếu máu. Erythropoietin tổng hợp tinh khiết tỏ ra an toàn và có hiệu quả trong điều trị thiếu máu, trong suy thận và các thứ thiếu máu thứ phát như thiếu máu trong các bệnh ung thư hay viêm nhiễm (như viêm khớp dạng thấp). Erythropoietin có trên thị trường như epoetin alfa; tuy nhiên thuốc phải tiêm dưới da ba hay nhiều lần hơn mỗi tuần và rất đắt.

Thuốc này được dùng chỉ để làm giảm thiếu máu khi bệnh nhân phải phụ thuộc vào truyền máu hay khi chất lượng cuộc sống được cải thiện rõ rệt bởi đáp ứng huyết học.


Bài mới nhất

Truyền máu (làm test hòa hợp, phản ứng và bệnh lây truyền)

Hồng cầu đóng gói là một hợp thành được dùng nhiều nhất để làm tăng hematocrit. Mỗi đơn vị có một thể tích khoảng 300 mL trong đó gần 200 mL chứa hồng cầu.

Chất chống đông do Luput (chẩn đoán và điều trị)

Một cách trái khoáy, yếu tố chống đông do luput thường có liên quan với nguy cơ tăng bị huyết khối và sẩy thai tự phát liên tiếp.

Tình trạng tăng đông máu (chẩn đoán và điều trị)

Ung thư thường có nguy cơ tăng của cả huyết khối động mạch và tĩnh mạch. Trong một vài trường hợp, đông máu rải rác nội mạch mức độ thấp hình như cũng có trách nhiệm.

Kháng thể yếu tố VIII mắc phải (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị chọn lọc là cyclophosphamid thường phối hợp với prednison. Trong thời gian quá độ, việc thay đổi yếu tố VIII tái phạm có thể là cần thiết. Thay huyết tương để làm giảm trị giá chất ức chế có thể có ích.

Đông máu rải rác nội mạch (chẩn đoán và điều trị)

Quá trình đông máu thường được hạn chế ở một diện tích khu trú bởi sự phối hợp của dòng máu và các chất ức chế động máu lưu hành, đặc biệt là antithrombin III.

Bài xem nhiều nhất

Bệnh bạch cầu cấp (chẩn đoán và điều trị)

Thăm khám thấy bệnh nhân xanh xao, xuất huyết dưới da, ban xuất huyết và nhiều dấu hiệu khác của nhiễm khuẩn. Viêm miệng và phì đại lợi có thể thấy ở những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu thế bạch cầu đơn nhân.

Giảm bạch cầu trung tính (chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp hội chứng Felty dẫn đến nhiễm khuẩn liên tiếp thì cắt lách thường làm giảm loét chân và làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn nhưng bất cứ điều trị thế nào thì đều không tăng số lượng bạch cầu trung tính.

Thiếu máu huyết tán (chẩn đoán và điều trị)

Thiếu máu huyết tán là một nhóm bệnh trong đó đời sống hồng cầu bị giảm ngắn, hoặc từng thời kì hoặc liên tục. Tủy xương có khả năng tăng sản xuất hồng cầu lên gấp 8 lần để đáp ứng với đời sống hồng cầu bị giảm.

Thiếu máu thiếu sắt (chẩn đoán và điều trị)

Cũng có thể bị thiếu sắt vì chế độ ăn thiếu thốn nhưng điều này hiếm có ở người trưởng thành. Giảm hấp thụ sắt có thể là nguyên nhân thiếu sắt và thường do phẫu thuật dạ dày.

Các thể bệnh Thalassemia (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng α thalassemia thường gặp trước hết ở những người từ Đông Nam chẩu Ấ, Trung Quốc ít gặp hơn ở những người da đen bình thường, người trưởng thành có 4 mẫu chuỗi α globin.

Hội chứng tán huyết tăng ure huyết (rối loạn cầm máu)

Bệnh nhân đến với thiếu máu, chảy máu hay suy thận. Suy thận có thể có hoặc không có thiểu niệu. Trái với xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối, không có những biểu hiện thần kinh nào ngoài những biểu hiện do tình trạng urê huyết cao.

Thiếu vitamin B12 (chẩn đoán và điều trị)

Vitamin B12 có trong mọi thực phẩm nguồn gốc động vật nên chế độ ăn thiếu vitamin B12 là rất hiếm và chỉ gặp ở những người ăn chay, hoàn toàn ăn rau và tránh mọi thực phẩm nguồn gốc động vật như thịt, cá.

Thiếu vitamin K (chẩn đoán và điều trị)

Thời gian prothrombin kéo dài đến mức lớn hơn thời gian thromboplastin một phần và trong thiếu vitamin K nhẹ, chỉ thời gian prothrombin là bị ảnh hưởng. Trị giá fibrinogen, thời gian thrombin và số lượng tiểu cầu đều không bị ảnh hưởng. 

Đái huyết sắc tố kịch phát về đêm (chẩn đoán và điều trị)

Thiếu máu ở những mức độ nặng khác nhau và có thể có hoặc không có tăng hồng cầu lưới. Những bất thường của kính phết máu không giúp cho chẩn đoán và có thể thấy các hồng cầu hình thoi to.

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (rối loạn cầm máu)

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối là một hội chứng ít gặp đặc trưng bởi bộ năm triệu chứng của thiếu máu huyết tán bệnh động mạch nhỏ, giảm tiểu cầu, những bất thường về thần kinh, sốt và những bất thường của thận.