Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh mắt (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 13 - 7 - 2016

Thông thường sợ ánh sáng là do tình trạng viêm của giác mạc, không có thể thủy tinh, viêm màng bồ đào hoặc bạch tạng.

Đỏ mắt

Đỏ mắt là dấu hiệu thường thấy nhất của các tổn thương mắt. Đỏ mắt do cương tụ của các mạch máu kết mạc, thượng củng mạc hoặc thể mi, ban đỏ mi mắt hoặc chảy máu dưới kết mạc. Chẩn đoán phân biệt chính với các viêm kết mạc, tổn thương giác mạc, glocom cấp diễn hoặc viêm màng bồ đào cấp diễn.

Khó chịu ở mắt

Đau nhức mắt

Có thể gậy nên bởi chấn thương (hóa chất - cơ học - vật lý), nhiễm khuẩn, viêm hoặc tăng đột biến nhãn áp.

Cảm giác dị vật

Trong đa số trường hợp, cảm giác có dị vật là do có dị vật trên kết mạc,hoặc trên giác mạc.

Những nguyên nhân khác có thể là tổn thương của biểu mô giác mạc, hoặc sự cọ xát của lông mi trên giác mạc (lông xiên, lông quặm).

Sợ ánh sáng

Thông thường sợ ánh sáng là do tình trạng viêm của giác mạc, không có thể thủy tinh, viêm màng bồ đào hoặc bạch tạng. Một nguyên nhân kém phổ biến hơn là tình trạng sốt liên quan đếp nhiễm virus.

Ngứa

Ngứa là đặc trưng đối với tổn thương mắt do dị ứng.

Xước - căm giác bỏng rát

Cảm giác mắt bị xước hoặc bỏng rát là do tình trạng khô mắt, hay xuất hiện ở người cao tuổi, xong cũng có thể ở bất cứ lứa tuổi nào. Sự thiếu hụt các thành phần của lớp nước mắt có thể do môi trường bị khô, do tổn thương mắt, do bệnh toàn thân hoặc do thuốc (các thuốc dạng như atropin).

Chảy nước mắt

Thông thường là do nước mắt không thông thoát do tắc hệ thống dẫn lưu nước mắt hoặc vị trí của mi dưới bị lệch chỗ.

Phản xạ chảy nước mắt xuất hiện trong bất cứ tổn thương nào của biểu mô giác mạc.

Mỏi mắt và đau đầu

Bệnh nhân thường than phiền mỏi mắt sau khi đọc sách kéo dài hoặc làm việc gay go.

Tật khúc xạ cao, lão thị, ánh sáng thiếu hoặc sai lệch quy tụ (chủ yếu mắt đưa ra ngoài) cần được chỉnh sớm. Đau nhức đầu dữ dội xuất hiện trong các tổn thương mắt đặc biệt trong viêm giác mạc, viêm mống mắt và glocom cấp.

Đau nhức đầu với cảm giác bị lột da đầu là một dấu hiệu đáng kể của viêm động mạch cần đặc biệt chú ý trên người cao tuổi.

Tiết tố kết mạc

Tiết tố mủ thường do nhiễm vi khuẩn ở kết mạc, giác mạc hoặc túi lệ, viêm kết mạc do virus hoặc viêm giác mạc gây tiết tố nước.

Viêm kết mạc dị ứng thường gây chảy nước mắt và nhiều tiết tố kèm theo ngứa.

Mất thị lực

Nguyên nhân quan trọng nhất làm giảm thị lực là tật khúc xạ, đục thể thủy tinh, tổn thương võng mạc do đái tháo đường, thoát huyết trong dịch kính, bong võng mạc vùng hoàng điểm, tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc, tắc động mạch trung tâm võng mạc, đục giác mạc và tổn thương thần kinh thị giác.

Mất thị trường một bén có thể do bệnh của võng mạc hoặc thần kinh thị giác. Những nguyên nhân quan trọng là bong võng mạc, glocom mạn tính, tắc một nhánh tĩnh hoặc động mạch trung tâm, viêm thị thần kinh thị giác và thiếu máu phần trước của thần kinh thị giác (tất cả các tổn thương này dĩ nhiên có thể gây mất thị trường cả hai bên tổn thương của giao thoa thị giác, thị giác do khối u tuyến yên gây mất thị trường hai bên rất đặc hiệu.

Những tổn thương của phần sau của giao thoa thị giác gây nên mất thị trường cùng bên đồng danh. Những tổn thương của dải thị giác càng ở phía sau thì những tổn thương của cả hai mắt càng giống nhau (về hình thái, kích thước và vị trí khu trú).

Bệnh của mạch máu não cũng như khối u của não thường gây các tổn thương phía sau của giao thoa thị giác.

Giảm thị lực và mù

Một người được coi như có thị lực giảm sút khi mắt tốt nhất sau khi được điều chỉnh bằng kính chỉ đạt 20/80 hoặc kém hơn và thị trường bị thu hẹp một cách đáng kể.

Mù theo luật pháp ở Mỹ được xác định khi mắt tốt nhất sau khi được chỉnh bằng kính chi đạt 20/200 hoặc kém hơn và thị trường rộng nhất đạt 20 độ hoặc kém hơn.

Hiện nay ở Mỹ có khoáng 500.000 người mù theo luật pháp, trong đó trên một nửa thuộc lứa tuổi 65.

Những nguyên nhân hàng đầu gây mù là glocom, tổn thương võng mạc do đái tháo đường và thoái hóa hoàng điểm. Đa số bang ở Mỹ đòi hỏi thị lực tốt nhất sau khi điều chỉnh bằng kính ở cả hai mắt là 20/40 để có một giấy phép không hạn chế. Giấy phép hạn chế đặc hiệu có thể có giá trị đối với những người có thị lực kém hơn. Một số bang còn yêu cầu có thị trường tối thiểu.

Tổ chức Y tế Thể giới ước lượng ít nhất có 28 triệu người trên thể giới có thị lực 10/200 hoặc kém hơn và thêm hàng triệu người mất thị lực cần thiết cho một cuộc sống bình thường. Những nguyên nhân chính của tình trạng mù trên thế giới là đục thể thủy tinh, mắt hột, bệnh phong, bệnh giun chỉ onchocerca và khô mắt.

Chứng nhìn đôi

Nhìn một hóa hai thường là hậu qủa của sự không cân bằng của các cơ ngoài nhãn cầụ. Nguyên nhân có thể do rối loạn chức năng các dây thân kinh số III, số IV hoặc số VI do tổn thương não trong chấn thương, do rối loạn tuần hoàn, u não, hoặc khối u trong não, tổn thương trong nhãn cầu, bệnh của chức năng truyền dẫn cơ - thần kinh do nhược cơ tổn thương trực tiếp, các cơ vận nhãn do rối loạn tuyến giáp tràng hoặc hậu qủa của vỡ xương sọ.

Sự mất cân bằng của quy tụ (lác ẩn) cũng có thể là một nguyên nhân. Hiện tượng nhìn một hóa hai ở một mắt, tồn tại lâu sau khi một mắt bị che lấp thường là do đục, thể thủy tinh.

Nhìn thấy chấm - tia chớp trước mắt

Nhìn thấy chấm (thể chơi vơi) trước mắt là do dịch kính bị đục. Vấn đề này không quan trọng. Tuy nhiên, thể chơi vơi cũng có thể báo hiệu là bong lớp dịch kính sau, thoát huyết dịch kính hoặc viêm màng bồ đào sau.

Nếu thể chơi vơi xuất hiện đột ngột, đặc biệt không đi kèm với nhìn thấy tia chóp, cần phải kiểm tra đáy mắt sau khi mở rộng đồng tử để phát hiện rách hoặc bong võng mạc.

Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Glocom góc mở (chẩn đoán và điều trị)

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ (lẹo, chắp, khối u, viêm bờ mi túi lệ, cụp lộn mi)

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Viêm kết mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Nguyên tắc điều trị các nhiễm khuẩn mắt (chẩn đoán và điều trị)

Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước.

Viêm kết mạc và giác mạc do hóa chất (chẩn đoán và điều trị)

Cần bắt đầu ngay tra kháng sinh tại chỗ. Trong bỏng vừa và nặng, cần tra nhiều corticoid và vitamin C tại chỗ và toàn thân.

Bong võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.

Liệt vận nhãn (chẩn đoán và điều trị)

Chấn thương là nguyên nhân chính mắc phải của dây IV, đặc biệt khi ở hai mắt những khối u trong não và những nguyên nhân giống như trong liệt dây III cũng cần được chú ý.

Kính tiếp xúc (sử dụng và biến chứng)

Loại kính sử dụng một lần không có nguy cơ gây loét giác mạc. Những hệ thống không dùng phương pháp rửa kính rất dễ gây viêm giác mạc do acanthamoeba.

Tắc động mạch và tắc nhánh trung tâm võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia.

Viêm màng bồ đào (chẩn đoán và điều trị)

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính. Tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Tắc tĩnh mạch và tắc nhánh trung tâm vong mạc (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch võng mạc cần được gửi ngay tới bác sỹ nhãn khoa để xác định chẩn đoán và xử trí.

Mù mắt thoáng qua (chẩn đoán và điều trị)

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi cao (chẩn đoán và điều trị)

Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm.

Xước giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.