Nguyên tắc điều trị các nhiễm khuẩn mắt: chẩn đoán và điều trị

2016-08-20 10:05 AM
Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước.

Trước khi xác định thuốc lý tưỏng, cần xác định tác nhân gây bệnh, tuy nhiên trong đại đa số trường hợp, điều trị dựa vào kinh nghiệm lâm sàng, được thăm dò trước trong điều trị viêm kết mạc và để phòng chống nhiễm khuẩn mắt, nên dùng thuốc trước đây đã được dùng một cách có hệ thống. Trong các thuốc uống chống vi khuẩn đang dùng, sulfonamid tra tại chỗ có tác dụng và không đắt. Hai sulfonamid tốt đối với mắt là sulfisoxazol và sulfacefamid natri. Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước. Mỡ phối hợp bacitracin - polymyxin thường được dùng để phòng bệnh sau mổ lấy dị vật giác mạc do tác dụng chống cả các tác nhân gram (-) lẫn gram (+).

Trong những kháng sinh có phổ tác dụng rộng rãi nhất có gentamycin, tobramycin và neomycin. Những thuốc này có một số tác dụng chống tác nhân gram (-) cũng như gram ( + ) nhưng nhìn chung không có tác dụng đối với phế cầu. Phản ứng dị ứng đối với neomycin khá phổ biến.

Các kháng sinh khác được hay dùng là erythromycin, tetracyclin và cephalosporin.

Đại đa số thuốc chống nhiễm khuẩn mắt được dùng tại chỗ.

Mỡ có tác dụng lớn hơn nước vì thuốc mỡ tồn tại ở mắt lâu hơn. Tuy nhiên thuốc hay gây mờ mắt: Nếu cần tránh điều này thỉ nên dùng thuốc nước.

Thuốc toàn thân cần được áp dụng trong nhiễm trùng nội nhãn, viêm tổ chức hốc mắt, viêm túi lệ, viêm kết - giác mạc lậu cầu, viêm kết mạc thể vùi và nhiễm trùng nặng ngoài nhãn cầu không đáp ứng tốt với điều trị tại chỗ.

Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị: chẩn đoán và điều trị

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Liệt vận nhãn: chẩn đoán và điều trị

Chấn thương là nguyên nhân chính mắc phải của dây IV, đặc biệt khi ở hai mắt những khối u trong não và những nguyên nhân giống như trong liệt dây III cũng cần được chú ý.

Glocom góc mở: chẩn đoán và điều trị

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Viêm kết mạc: chẩn đoán và điều trị

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Viêm màng bồ đào: chẩn đoán và điều trị

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính, tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Mù mắt thoáng qua: chẩn đoán và điều trị

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Tổn thương xé rách ở mắt: chẩn đoán và điều trị

Mắt được băng nhẹ và bảo vệ bằng một vỏ kim khí, dựa trên xương hốc mắt trên và dưới. Bệnh nhân cần được hướng dẫn không bóp vào mắt đã nhắm kín để mát càng yên càng tốt.

Viêm tổ chức hốc mắt: chẩn đoán và điều trị

Ngoài ra còn có tổn thương màng não và não. Sự đáp ứng đối với kháng sinh rất tốt những áp xe khi hình thành cần được tiến hành phẫu thuật dẫn lưu.

Xước giác mạc: chẩn đoán và điều trị

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.