Liệt vận nhãn: chẩn đoán và điều trị

2016-08-10 11:31 AM
Chấn thương là nguyên nhân chính mắc phải của dây IV, đặc biệt khi ở hai mắt những khối u trong não và những nguyên nhân giống như trong liệt dây III cũng cần được chú ý.

Trong liệt toàn bộ dây thần kinh III, sụp mi sẽ hoàn toàn, mắt lác ra ngoài và hơi bị nén xuống. Vận nhãn bị hạn chế về mọi phía, trừ liếc sang ngay (chức năng của cơ trực bên). Dây thần kinh số IV được nguyên vẹn (cơ chéo trên) được phát hiện bằng sự hiện diện của sự vòng quay vòng vào trong khi thử ấn vào mắt. Sự tổn thương của đồng tử (đồng tử tán). Không phản xạ với điều tiết hoặc ánh sáng là một dấu hiệu quan trọng để phân biệt nguyên nhân "nội khoa" hoặc "phẫu thuật" của liệt dây III đơn lẻ. Tổn thương do chèn ép của dây III, ví dụ như phình mạch của động mạch giao thông sau và sự thoát vị do tổn thương lớn dưới lều hay đặc trưng có tổn thương của đồng tử.

Thiết yếu đối với bệnh nhân có liệt dây III đơn lẻ kèm theo tổn thương đồng tử phải được kiểm tra về sự hiện diện của một phình mạch của động mạch thông sau, cho đến khi loại trừ được bằng mạch ký động mạch não. Và như vậy cần gửi ngay bệnh nhân đến thầy thuốc phẫu thuật thần kinh để xử trí. Nguyên nhân của liệt đơn lẻ dây III bao gồm đái tháo đường, tăng huyết áp, giang mai và viêm mạch máu tế bào khổng lồ.

Liệt dây IV gây lệch mắt lên trên kèm theo không thể ép khi 2 mắt liếc ra ngoài. Có song thị dọc nổi rõ hơn khi bệnh nhân cố gắng đọc sách hoặc xuống thang gác. Nhiều nguyên nhân liệt đơn lẻ dây IV là do một tổn thương bẩm sinh không được bù trừ. Chấn thương là nguyên nhân chính mắc phải của dây IV, đặc biệt khi ở hai mắt những khối u trong não và những nguyên nhân giống như trong liệt dây III cũng cần được chú ý.

Liệt dây VI, gây lác quy tụ trong tư thế nguyên phát, với sự mất khả náng nhìn ra phía ngoài của mắt đau, gây song thị ngang tăng lên khi nhìn tập trung vào phía bị tổn thương và khi nhìn ra xa. đó là dấu hiệu quan trọng của tăng áp lực sọ não đặc biệt 'trên trẻ em. Liệt dây VI cũng có thể do chấn thương, khối u, tổn thương thận não, hoặc nguyên nhân nội khoa.

Liệt tổn thương lớn trong hốc mắt hoặc trong não cần được lưu ý trên bất cứ bệnh nhân nào bị liệt một dây thần kinh vận nhãn. Trên các bệnh nhân bị liệt một dây vận nhãn đơn lẻ phải chú ý đến các nguyên nhân nội khoa. Cần tiến hành chụp CT hoặc MRI nếu không phục hồi được trong vòng 3 tháng.

Liệt thần kinh vận nhãn xuất hiện phối hợp với các dấu hiệu thần kinh khác có thể do các tổn thương của thân não bao quanh xoang hang hoặc trong hốc mắt. Tổn thương bao quanh xoang hang bao gồm các nhánh chia trên của dây thần kinh ba đầu, thần kinh vận nhãn, và đôi khi giao thoa thị giác. Tổn thương đỉnh hốc mắt bao gồm thần kinh thị giác và thần kinh vận nhãn.

Nhược cơ và bệnh mắt do tuyến giáp trạng bao giờ cũng cần được lưu ý trong chẩn đoán phân biệt với tổn thương liệt vận nhãn.

Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị: chẩn đoán và điều trị

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Glocom góc mở: chẩn đoán và điều trị

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Viêm kết mạc: chẩn đoán và điều trị

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Viêm màng bồ đào: chẩn đoán và điều trị

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính, tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Mù mắt thoáng qua: chẩn đoán và điều trị

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Tổn thương xé rách ở mắt: chẩn đoán và điều trị

Mắt được băng nhẹ và bảo vệ bằng một vỏ kim khí, dựa trên xương hốc mắt trên và dưới. Bệnh nhân cần được hướng dẫn không bóp vào mắt đã nhắm kín để mát càng yên càng tốt.

Viêm tổ chức hốc mắt: chẩn đoán và điều trị

Ngoài ra còn có tổn thương màng não và não. Sự đáp ứng đối với kháng sinh rất tốt những áp xe khi hình thành cần được tiến hành phẫu thuật dẫn lưu.

Xước giác mạc: chẩn đoán và điều trị

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.

Di vật kết giác mạc: chẩn đoán và điều trị

Cần nhấn mạnh là biểu mô giác mạc nguyên vẹn là một hàng rào có ích để chống nhiễm khuẩn nhưng một khi biểu mô bị tổn thương nó sẽ rất dễ dàng bị nhiễm khuẩn.