Glocom góc mở: chẩn đoán và điều trị

Ngày: 7/23/2016 10:08:55 AM

By member of dieutri.vn

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Những điểm thiết yếu để chẩn đoán

Bắt đầu âm ỉ ở nhóm người cao tuổi.

Không có triệu chứng ở các thời kỳ sớm.

Mất dần dần thị lực chu biên trong vòng nhiều năm, kết qủa là thị lực hình ống.

Tăng nhãn áp vĩnh viễn phối hợp với lõm gai thị hình đĩa.

Dấu hiệu "nhìn thấy quầng xanh đỏ quanh ánh đèn" không xuất hiện trừ khi nhãn áp rất cao.

Nhận định chung

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Nguyên nhân của sự giảm mức độ thoát ra ngoài của thủy dịch trong glocom góc mở vẫn chưa được xác định rõ. Bệnh ở cả hai mắt. Chưa thấy rõ vai trò của di truyền. Glocom xuất hiện ở giai đoạn sớm hơn trên người da đen và kết qủa là những tổn thương nặng hơn của thị thần kinh. Ngày càng thấy rõ các yếu tố khác hơn là mức độ của nhãn áp (đặc biệt biến đổi của mạch máu) có thể có vai trò trên một số người trong cơ chế gây bệnh của tổn thương thị thần kinh.

Ở Mỹ ước lượng có 1- 2% người trên 40 tuổi bị glocom. Trong đó, khoảng 25% không được phát hiện. Khoảng 90% các trường hợp glocom thuộc loại góc mở.

Dấu hiệu lâm sàng

Khởi đầu bệnh nhân bị glocom gđc mở không có triệu chứng.

Khi khám bệnh, có thể có lõm gai nhẹ được quan sát như một sự tăng lên (hoặc một sự không đồng đều giữa hai mắt) của tỷ lệ giữa đường kính của lõm gai với đường kính của toàn bộ gai thị. Biến đổi của lớp sợi của thị thần kinh có thể được quan sát ở giai đoạn sớm hơn trên một số bệnh nhân. Thị trường thu hẹp dần nhưng thị lực trung tâm còn tồn tại tốt đến giai đoạn muộn của bệnh.

Đo nhãn áp, soi đáy mắt và tìm biến đổi của thị trường trung tâm là 3 xét nghiệm chính để chẩn đoán và đánh giá liên tục tiến triển của glocom. Nhãn áp bình thường thay đổi từ 10 - 21 mmHg. Tuy nhiên, trừ trường hợp cơn cấp diễn, chẩn đoán không bao giờ dựa vào đo nhãn áp, một lần độc nhất vì nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến nhãn áp (ví dụ thay đổi ban ngày). Những tăng nhất thời của nhãn áp không tạo nên glocom (cũng như những biến đổi nhất thời của huyết áp không tạo nên tăng huyết áp).

Kiểm tra thị trường có thể không thấy sự liên quan trên một số bệnh nhân.

Phòng bệnh

Trên tất cả những người ngoài 40 tuổi đặc biệt người da đen, cần tiến hành đo nhãn áp, soi đáy mắt cứ 3 - 5 năm một lần. Nếu thấy có yếu tố gia đình thì định kỳ kiểm tra cần rút ngắn hơn.

Điều trị

Timolol, một tác nhân ức chế bêta adrenergic là tác nhân hữu hiệu với điều trị glocom trong liều lượng 1 giọt 0,25% - 0,5% cứ 12 giờ/lần. Thuốc thay đổi là levobunolol 0,5% và metipranolol 0,1 - 0,6% mỗi thứ tra 2 lần/ngày.

Thuốc đó không nên dùng đối với bệnh nhân say máy bay hoặc đau tim. Betaxolol 0,25% hay 0,5% một tác nhân ức chế cảm thụ bêta có thể an toàn hơn đối với những bệnh nhân say máy bay. Tra mắt epinephrin 0,5 - 1% hoặc dipiveữin 0,1% có thể dùng ngày 2 lần, hoặc đơn độc hoặc phối hợp với betaxolol để khống chế sự giảm sút hiệu qủa của betaxolol so sánh với những tác nhân ức chế không chọn lọc. Pilocarpin là thuốc chuẩn được dùng hàng trăm năm nay, vẫn còn được dùng với đậm độ 1 - 4% ngày 3 - 4 lần. Do thuốc gây cận thị đối với bệnh nhân trẻ, và làm co hẹp đồng tử, ảnh hưởng đến thị lực trên bệnh nhân bị đục thể thủy tinh, nên thuốc được dùng phối hợp với hoặc một tác nhân ức chế beta epinephrin, hoặc dipivefrin. Chất ức chế anhydrase carbonic (ví dụ acetazolamid) được dùng cho đến khi phẫu thuật hoặc chiếu tia lazer, khi điều trị tại chỗ không thích hợp hoặc gây các tác dụng phụ, hoặc có thể dùng kéo dài nếu những sự chọn lựa trên không thích hợp. Điều trị mở bè bằng lazer ngày càng được dùng nhiều cùng với điều trị tại chỗ để kéo lùi thời gian phải phẫu thuật lazer cũng được nêu lên như một phương pháp điều trị khởi đầu. Cắt bỏ tổ chức bè là cần thiết đối với bệnh nhân mà nhãn áp duy trì ở mức cao dù điều trị bằng thuốc hay bằng lazer. Đồng thời nó có thể coi như một điều trị bắt đầu trên một số bệnh nhân. Điều trị phối hợp với fluorouracil dưới kết mạc hoặc mitomycin trong giai đoạn phẫu thuật ngày càng được phổ biến trong những trường hợp khó để tăng cường kết qủa cắt bỏ tổ chức bè.

Tiên lượng

Glocom mạn tính bắt đầu ở tuổi 40 - 45 không được điều trị sẽ dẫn đến mù hoàn toàn ở tuổi 60 - 65. Chẩn đoán sớm và điều trị sẽ duy trl thị lực có ích suốt đời trong đa số trường hợp.