Glocom cấp (góc đóng, chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 21 - 7 - 2016

Glocom góc đóng cấp cũng có thể xuất hiện trong viêm màng bồ đào trước kéo dài hoặc lệch thể thủy tinh.

Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán

Xuất hiện đột ngột trên người cao tuổi, đặc biệt người viễn thị và người châu Á.

Đau nhức nhiều và giảm thị lực trầm trọng.

Mắt đỏ, giác mạc đục lờ, đồng tử giãn

Nhãn cầu cứng.

Nhận định chung

Glocom góc đóng cấp diễn nguyên phát có thể chỉ xuất hiện vối sự khép của một tiền phòng hẹp sẵn, như hay thấy trên người cao túổi (do sự tăng thể tích có tính chất sinh lý của thể thủy tinh, trên người viễn thị, và người châu Á. Khoảng 1% người ngoài tuổi 35 có góc tiền phòng hẹp, nhưng nhiều người không phát triển thành glocom cấp, như vậy điều kiện này không phải là phổ biến. Góc đóng hay phối hợp với giãn đông tử và có thể xuất hiện khi ngồi trong một rạp chiếu bóng tối, khi cơ thể bị stress (do epinephrin trong tuần hoàn tăng lên) và với thuốc làm giãn đồng tử để soi đáy mắt và đôi khi do dùng thuốc toàn thân chống tiết cholin ví dụ atropin (thuốc tiền mê)

Việc làm giãn đông tử phải hết sức thận trọng khi tiền phòng bị nông (có thể xác định dễ dàng khi soi chéo bán phần trước nhãn cầu).

Glocom góc đóng cấp cũng có thể xuất hiện trong viêm màng bồ đào trước kéo dài hoặc lệch thể thủy tinh. Triệu chứng giống như trong glocom góc đóng nguyên phát nhưng cần thực hiện chẩn đoán phân biệt vì xử trí khác nhau.

Dấu hiệu lâm sàng

Bệnh nhân có cơn glocom góc đóng cấp thường đòi hỏi điều trị ngay lập tức vì đau nhức cao độ và giảm thị lực trầm trọng, mặc dù có những trường hợp bán cấp với các dấu hiệu chậm hơn. Nhìn mờ thường phối hợp đặc trưng với nhìn quầng xanh đỏ trước ánh đèn. Có khi có cả buồn nôn và đau bụng, và vì vậy glocom cấp cần được lưu ý để chẩn đoán phân biệt với đau bụng và nôn ở người cao tuổi.

Mắt đỏ, giác mạc đục lờ, đồng tử giãn vừa phải và mất phản xạ với ánh sáng. Đo nhãn áp bằng máy (hoặc sờ nán bằng ngón tay) phát hiện nhãn áp lên cao.

Chẩn đoán phân biệt

Glocom cấp cần được phân biệt với viêm kết mạc, viêm màng bồ đào cấp, và tổn thương giác mạc.

Điều trị

Nguyên phát

Trong glocom góc đóng nguyên phát, cắt mống mắt ngoại biên bằng laser thường đem lại kết qủa vĩnh viễn.

Thông thường một liều lượng độc nhất 500 mg/tĩnh mạch acetazolamid kèm theo uống 250 mg/4 lần/ngày thường là đủ. Thuốc lợi tiểu như glycerol uống và urê hay manitol tĩnh mạch (liều lượng của cả ba chất là 1-2 g/cân nặng) có thể dùng khi cần thiết.

Một khi nhãn áp bắt đầu xuống, dùng pilocarpin 4%, 1 giọt 15 phút một lần trong giờ đầu, sau đó ngày 4 lần được dùng để điều trị glocom góc ẩn. Cần xử trí mắt bên kia bằng cắt mống mắt chu biên.

Thứ phát

Trong glocom góc đóng thứ phát có thể cũng dùng acetazolamid toàn thân có hoặc không kèm theo thuốc lợi tiểu để điều trị hòa nhãn áp.

Điều trị tiếp tục phụ thuộc vào cơ chế gây bệnh.

Tiên luợng

Glocom góc đóng không được điều trị sẽ dẫn đến mù trong 2 - 5 ngày sau cơn đầu tiên.

Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Glocom góc mở (chẩn đoán và điều trị)

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ (lẹo, chắp, khối u, viêm bờ mi túi lệ, cụp lộn mi)

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Viêm kết mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Nguyên tắc điều trị các nhiễm khuẩn mắt (chẩn đoán và điều trị)

Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước.

Viêm kết mạc và giác mạc do hóa chất (chẩn đoán và điều trị)

Cần bắt đầu ngay tra kháng sinh tại chỗ. Trong bỏng vừa và nặng, cần tra nhiều corticoid và vitamin C tại chỗ và toàn thân.

Bong võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.

Kính tiếp xúc (sử dụng và biến chứng)

Loại kính sử dụng một lần không có nguy cơ gây loét giác mạc. Những hệ thống không dùng phương pháp rửa kính rất dễ gây viêm giác mạc do acanthamoeba.

Liệt vận nhãn (chẩn đoán và điều trị)

Chấn thương là nguyên nhân chính mắc phải của dây IV, đặc biệt khi ở hai mắt những khối u trong não và những nguyên nhân giống như trong liệt dây III cũng cần được chú ý.

Tắc động mạch và tắc nhánh trung tâm võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia.

Viêm màng bồ đào (chẩn đoán và điều trị)

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính. Tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Mù mắt thoáng qua (chẩn đoán và điều trị)

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Tắc tĩnh mạch và tắc nhánh trung tâm vong mạc (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch võng mạc cần được gửi ngay tới bác sỹ nhãn khoa để xác định chẩn đoán và xử trí.

Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi cao (chẩn đoán và điều trị)

Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm.

Xước giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.

Xem theo danh mục