Viêm thần kinh thị giác (chẩn đoán và điều trị)


Ngày: 6 - 8 - 2016

Trong tất cả cảc hình thái của viêm thị thần kinh, teo gai thị sẽ xuất hiện sau đó, nếu có sự phá hủy của sợi thần kinh với số lượng đủ.

Viêm thị thần kinh thể hiện đặc trưng bằng giảm thị lực một bên phát triển đột ngột và có thể tăng lên những ngày sau. Xấu nhất thì thị lực thay đổi từ 20/30 đến mất nhận thức ánh sáng. Sau đó thị lực thường tăng lại trong 2 - 3 tuần và nhiều khi trở lại bình thiíờng. Phổ biến là có đau nhức ở vùng mắt, đặc biệt khi mắt vận động. Giảm thị trường, thể hiện bằng điểm mù trung tâm nhưng có thể có nhiều khuyết tật của thị trường một bên. Nhận thức màu sắc bị mất với tổn thương đồng tử. Do đĩa thị có thể bị phù nề kèm theo đôi khi có thoát huyết quanh gai thị hình ngọn nến ở ngoại vi. Trong viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu, đĩa thị bình thường.

Trong tất cả cảc hình thái của viêm thị thần kinh, teo gai thị sẽ xuất hiện sau đó, nếu có sự phá hủy của sợi thần kinh với số lượng đủ.

Viêm thị thần kinh thường đặc biệt phối hợp với bệnh mất myelin xuất hiện trên những bệnh nhân được biết như đã bị nhiều xơ cứng mạch máu và là biểu hiện đầu tiên của bệnh trên những bệnh nhân khác. Trên những bệnh nhân với dấu hiệu lâm sàng của viêm thị thần kinh đơn lẻ, khoảng 75% sẽ phát triển xơ hóa nhiều vị trí trong vòng 15 năm; MRI não, xét nghiệm nước não tủy, và rễ não, tìm cảm ứng toàn thân với những khả năng được nêu lên có thể cho thêm thông tin về khả năng có nhiều vị trí bị xơ hóa. Viêm thị thần kinh cũng có thể xuất hiện phối hợp với nhiễm virus (bao gồm virus quai bị, sởi, cúm và virus gây thủy đậu, zoster), với nhiều tổn thương miễn dịch tự miễn đặc biệt lupus ban đỏ toàn thân, và do sự lan tràn của viêm từ màng não tổ chức hốc mát hoặc xoang cạnh mũi.

Chỉ đơn độc prednisolon không có tác dụng tốt đạt tốc độ phục hồi thị lực trong viêm thị thần kinh cấp mất myelin và có thể tăng cường nguy cơ tái phát của bệnh. Tuy nhiên tiêm tĩnh mạch methylprednisolon (250 mg 6 giờ/lần trong 3 ngày) sau đó, uống prednisólon (1mg/kg trong 11 ngày rồi giảm dần sau 4 ngày) làm tăng nhanh sự phục hồi thị lực và giải quyết tốt một số thông số thị lực nhưng có nguy cơ nhỏ gây tác dụng phụ toàn thân. Vấn đề điều trị như vậy áp dụng cho một cá nhân bệnh nhân phải được xác định bởi mức độ giảm thị lực, tình trạng của mắt bên kia, yêu cầu của bệnh nhân cần thị lực có mức độ nào và tính chất của tác dụng phụ đối với điều trị bằng steroid. Viêm thị thần kinh do herpes zoster hoặc lupus ban đỏ toàn thân thường có tiên lượng xấu hơn những hình thái khác của viêm thị thần kinh và cũng đòi hỏi điều trị bằng liều lượng cao steroid tĩnh mạch. Tất cả các bệnh nhân bị viêm thị thần kinh cần được gửi cấp cứu đến thầy thuốc nhãn khoa. Bất cứ bệnh nhân nào được chẩn đoán lâm sàng bị viêm thị thần kinh cần được gửi cấp cứu đến thầy thuốc nhãn khoa. Bất cứ bệnh nhân nào được chẩn đoán lâm sàng bị viêm thị thần kinh đơn lẻ, trong đó sự phục hồi thị lực không đạt đòi hỏi quan sát thêm sau này, đặc biệt để loại trừ một tổn thương do chèn ép hoặc một khối u trong thị thần kinh.


Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Viêm kết mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Glocom góc mở (chẩn đoán và điều trị)

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ (lẹo, chắp, khối u, viêm bờ mi túi lệ, cụp lộn mi)

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Nguyên tắc điều trị các nhiễm khuẩn mắt (chẩn đoán và điều trị)

Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước.

Bong võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.

Viêm kết mạc và giác mạc do hóa chất (chẩn đoán và điều trị)

Cần bắt đầu ngay tra kháng sinh tại chỗ. Trong bỏng vừa và nặng, cần tra nhiều corticoid và vitamin C tại chỗ và toàn thân.

Tắc động mạch và tắc nhánh trung tâm võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia.

Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi cao (chẩn đoán và điều trị)

Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm.

Tắc tĩnh mạch và tắc nhánh trung tâm vong mạc (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch võng mạc cần được gửi ngay tới bác sỹ nhãn khoa để xác định chẩn đoán và xử trí.

Đục thể thủy tinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngay ở các giai đoạn sớm nhất, đục thể thủy tinh có thể thấy được qua đồng tử tán rộng khi soi máy đáy mắt, đèn khe, hoặc bằng một ánh sáng cầm tay.

Xước giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.

Mù mắt thoáng qua (chẩn đoán và điều trị)

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Viêm màng bồ đào (chẩn đoán và điều trị)

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính. Tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Glocom cấp (góc đóng, chẩn đoán và điều trị)

Glocom góc đóng cấp cũng có thể xuất hiện trong viêm màng bồ đào trước kéo dài hoặc lệch thể thủy tinh.

Xem theo danh mục