Tắc động mạch và tắc nhánh trung tâm võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 29 - 7 - 2016

Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia.


Tắc động mạch trung tâm võng mạc xuất hiện như một trường hợp giảm sút thị lực trầm trọng nhanh chóng. Thị lực giảm chỉ còn khả năng đếm ngón tay hoặc kém hơn, thị lực cũng thu hẹp một cách phổ biển còn lại một đảo nhỏ ở phía thái dương. Soi đáy mắt phát hiện phù màu xanh xám của võng mạc, rõ nhất ở phần sau và chấm màu anh đào của hoàng điểm. Động mạch võng mạc nhạt màu và hiện tượng đứt khúc trong máu tĩnh mạch có thể thấy rõ. Đôi khi có thể thấy hiện tượng tắc mạch ở động mạch trung tâm hoặc ở các nhánh võng mạc phù nề tồn tại khoảng 5 - 6 tuần, để lại một võng mạc tương đối bình thường nhưng với một đĩa thị bạc màu và mạch máu nhỏ thu hẹp.

Bệnh nhân phải được gửi tới thầy thuốc nhãn khoa như một cấp cứu. Nếu được khám trong vài ba giờ đầu, sau thời gian bắt đầu điều trị cấp cứu - bao gồm đặt bệnh nhân nằm thẳng người, day nhãn cầu, hít liều cao oxy, tiêm acetazolamid tĩnh mạch và trích tiền phòng có thể giải quyết tình trạng giảm thị lực. Điều trị chống đông máu còn cần được đánh giá.

Vấn đề chính trong xử trí là xác định tổn thương nằm dưới có thể điều trị được. Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia. Khi đã chẩn đoán viêm mạch máu do tế bào khổng lồ, dựa trên cơ sở của những dấu hiệu phối hợp (nhức đầu và đau cơ) các dấu hiệu lâm sàng và cả trên cơ sở tốc độ huyết trầm tăng cao, cần điều trị ngay bằng một điều lượng độc nhất methyl prednisolon, 250 - 500 mg tĩnh mạch trong vòng 24 giờ từ khi bệnh khởi đầu, sau đó bằng điều lượng cao corticosteroid toàn thân (60 - 80 mg prednisolon một ngày uống). Làm như vậy thị lực có thể phục hồi trong tắc động mạch trung tâm võng mạc. Cần làm sinh thiết động mạch thái dương trong vòng 5 - 7 ngày sau khi điều trị bằng corticosteroid. Nguồn gốc gây tắc của động mạch cảnh và tim cần được xác định và xử trí để giảm bớt nguy cơ đột quỵ. Tắc nhánh động mạch trung tâm võng mạc cũng có thể gây giảm sút thị lực nếu hoàng điểm bị tổn thương tuy nhiên bệnh nhân hay than phiền nhiều hơn vì mất thị trường. Dấu hiệu đáy mắt của phù nề võng mạc và các chấm sợi bông ở cạnh được khu trú ở diện võng mạc được mạch máu nuôi dưỡng bị tắc. Những nguyên nhân gây tắc về mặt tỷ lệ thì phổ biến hơn là trong tắc động mạch trung tâm võng mạc. Cũng có thể lưu ý trên bệnh đau nửa đầu, uống thuốc chống thai và viêm mạch máu. Kháng thể chống phospholipid đã biết được phối hợp với tắc nhánh và tắc động mạch trung tâm trên người trẻ. Bệnh nhân bị tắc nhánh động mạch trung tâm võng mạc cần được gửi cấp cứu đến thày thuốc nhãn khoa.


Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Viêm kết mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Bong võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.

Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi cao (chẩn đoán và điều trị)

Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm.

Viêm kết mạc và giác mạc do hóa chất (chẩn đoán và điều trị)

Cần bắt đầu ngay tra kháng sinh tại chỗ. Trong bỏng vừa và nặng, cần tra nhiều corticoid và vitamin C tại chỗ và toàn thân.

Tắc động mạch và tắc nhánh trung tâm võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ (lẹo, chắp, khối u, viêm bờ mi túi lệ, cụp lộn mi)

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Tắc tĩnh mạch và tắc nhánh trung tâm vong mạc (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch võng mạc cần được gửi ngay tới bác sỹ nhãn khoa để xác định chẩn đoán và xử trí.

Glocom góc mở (chẩn đoán và điều trị)

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Nguyên tắc điều trị các nhiễm khuẩn mắt (chẩn đoán và điều trị)

Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước.

Đục thể thủy tinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngay ở các giai đoạn sớm nhất, đục thể thủy tinh có thể thấy được qua đồng tử tán rộng khi soi máy đáy mắt, đèn khe, hoặc bằng một ánh sáng cầm tay.

Mù mắt thoáng qua (chẩn đoán và điều trị)

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Viêm màng bồ đào (chẩn đoán và điều trị)

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính. Tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Glocom cấp (góc đóng, chẩn đoán và điều trị)

Glocom góc đóng cấp cũng có thể xuất hiện trong viêm màng bồ đào trước kéo dài hoặc lệch thể thủy tinh.

Xước giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.

Thoát huyết dịch kính (chẩn đoán và điều trị)

Mắt không bị viêm và dấu hiệu chính của chẩn đoán là không thể quan sát đáy mắt mặc dầu thể thủy tinh vẫn trong suốt.

Khám mắt (chẩn đoán và điều trị)

Đo thị trường đối chiếu là một phương pháp rất có giá trị để phát hiện các thu hẹp thị trường.

Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh mắt (chẩn đoán và điều trị)

Thông thường sợ ánh sáng là do tình trạng viêm của giác mạc, không có thể thủy tinh, viêm màng bồ đào hoặc bạch tạng.

Tật khúc xạ (chẩn đoán và điều trị)

Trong loạn thị những tật khúc xạ ở các kinh tuyến dọc và ngang khác nhau. Có nhiều kỹ thuật phẫu thuật có giá trị để điều chỉnh tật khúc xạ, đặc biệt là cận thị.

Viêm giác mạc do tia cực tím (chẩn đoán và điều trị)

Khám bằng đèn khe sau khi tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng sẽ phát hiện chấm tỏa lan bắt mầu ở cả hai giác mạc.

Loét giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân than phiền bị đau nhức, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và giảm thị lực. Mắt đỏ, chủ yếu quanh rìa giác mạc, có thể có tiết dử mủ hoặc nước.

Đụng giập mắt (chẩn đoán và điều trị)

Một tổn thương đủ trầm trọng để gây chảy máu tiền phòng tạo nên nguy cơ thoát huyết tái phát, có thể gây glocom khó chữa và mất thị lực vĩnh viễn.

Hạt kết mạc góc mắt và mộng thịt (chẩn đoán và điều trị)

Hạt kết mạc góc mắt rất hiếm khi phát triển nhưng hiện tượng viêm có thể xuất hiện. Không cần thiết phải điều trị.

Kính tiếp xúc (sử dụng và biến chứng)

Loại kính sử dụng một lần không có nguy cơ gây loét giác mạc. Những hệ thống không dùng phương pháp rửa kính rất dễ gây viêm giác mạc do acanthamoeba.

Tổn thương xé rách ở mắt (chẩn đoán và điều trị)

Mắt được băng nhẹ và bảo vệ bằng một vỏ kim khí, dựa trên xương hốc mắt trên và dưới. Bệnh nhân cần được hướng dẫn không bóp vào mắt đã nhắm kín để mát càng yên càng tốt.

Xem theo danh mục