Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi cao (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 28 - 7 - 2016

Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm.


Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi là nguyên nhân hàng đầu làm giảm thị lực ở người cao tuổi.

Nguyên nhân chính xác chưa được biết rõ nhưng tỷ lệ bệnh tăng cứ mỗi mười năm ở tuổi ngoài 50 (khoảng 30% ở tuổi 75). Ngoài vấn đề tuổi, có những yếu tố khác bao gồm dân tộc (chủ yếu da trắng), giới (phụ nữ có phần bị nhiều hơn), tiền sử gia đình có bệnh, và tiền sử hút thuốc lá.

Thoái hóa hoàng điểm người già bao gồm nhiều triệu chứng lâm sàng và bệnh lý có thể chia thành hai nhóm: teo ("khô") và loét dịch ("ướt"). Mặc dù cả hai nhóm đều tiến triển và ở cả hai mát nó khác nhau bởi các biểu hiện lâm sàng, tiên lượng và xử trí.

Thoái hóa teo được đặc trưng bằng giảm thị lực tiến triển từng bậc, tính trầm trọng vừa phải do thoái hóa của võng mạc ngoài biểu mô sắc tố võng mạc, màng Bruch, mao mạch hắc mạc. Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm. Hình thái tiết dịch xuất hiện trong khoảng 90% cáo trường hợp mù pháp lý do bệnh. Giảm sút chức năng của màng Bruch (giữa biểu mô sắc tố võng mạc và mao mạch hắc mạc) tạo điều kiện cho dịch trong hoặc máu thấm vào võng mạc và làm cho biểu mô sắc tố võng mạc nổi cao khỏi màng Bruch (bong biểu mô sắc tố võng mặc) và tách võng mạc thần kinh cảm giác khỏi biểu mô sắc tố võng mạc (bong võng niậc nước). Những biến đổi này có thể tự hết với sự thay đổi thị lực nhất định, nhưng thường hay phối hợp với tân mạch xuất hiện từ mạch máu hắc mạc và phát triển giữa biểu mô sắc tố võng mạc và màng Bruch (màng mạch máu mới dưới võng mạc). Màng này gây giảm thị lực dần dần, vĩnh viễn. Giảm thị lực đột ngột trên bệnh nhân cao tuổi bị thoái hóa hoàng điểm tiết dịch xuất hiện ở thời gian của bong biểu mô sắc tố hoặc bong võng mạc cảm thụ hoặc thoát huyết từ một màng tân mạch dưới võng mạc.

Tất cả những biến đổi trên có thể xuất hiện trên những bệnh nhân trước đây chưa được chẩn đoán, trên những bệnh nhân được biết là đã có biến đổi teo và trên mắt kia của bệnh nhân có bệnh xuất tiết ở một mắt. Quang đông bằng tia lazer những màng tân mạch dưới võng mạc có thể làm lui lại sự bắt đầu giảm thị lực vĩnh viễn trên bệnh nhân nhưng chỉ khi nào màng tiết dịch ở xa hoàng điểm mới cho phép điều trị như vậy. Giá trị của quang đông bằng lazer hạn chế sự tiến triển của giảm thị lực tiến triển trên những bệnh nhân bị tổn thương ở hoàng điểm hãy còn đang được bàn cãi. Bệnh nhân cao tuổi bị giảm thị lực đột ngột do tổn thương hoàng điểm - đặc biệt ở vùng cạnh hoàng điểm hoặc có điểm mù, với thị lực trung tâm được duy trì - cần được gửi ngay đến thầy thuốc nhãn khoa để đánh giá.

Không có điều trị đặc hiệu đối vối tổn thương thoái hóa hoàng điểm gây teo. Tuy nhiên - cũng như đối với hình thái tiết dịch - bệnh nhân sẽ tốt hơn với sự chăm sóc để duy trì thị lực dù thấp. Cần thiết để làm cho bệnh nhân yên tâm là bệnh chỉ làm giảm sút thị lực trung tâm. Thị lực chu biên và do đó, thị lực chu biên vẫn được duy trì. Tuy nhiên thị lực chu biên có thể bị giảm do đục thể thủy tinh. Lúc này phẫu thuật sẽ có ích.


Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Viêm kết mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Bong võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.

Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi cao (chẩn đoán và điều trị)

Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm.

Viêm kết mạc và giác mạc do hóa chất (chẩn đoán và điều trị)

Cần bắt đầu ngay tra kháng sinh tại chỗ. Trong bỏng vừa và nặng, cần tra nhiều corticoid và vitamin C tại chỗ và toàn thân.

Tắc động mạch và tắc nhánh trung tâm võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ (lẹo, chắp, khối u, viêm bờ mi túi lệ, cụp lộn mi)

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Tắc tĩnh mạch và tắc nhánh trung tâm vong mạc (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch võng mạc cần được gửi ngay tới bác sỹ nhãn khoa để xác định chẩn đoán và xử trí.

Glocom góc mở (chẩn đoán và điều trị)

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Nguyên tắc điều trị các nhiễm khuẩn mắt (chẩn đoán và điều trị)

Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước.

Đục thể thủy tinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngay ở các giai đoạn sớm nhất, đục thể thủy tinh có thể thấy được qua đồng tử tán rộng khi soi máy đáy mắt, đèn khe, hoặc bằng một ánh sáng cầm tay.

Mù mắt thoáng qua (chẩn đoán và điều trị)

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Glocom cấp (góc đóng, chẩn đoán và điều trị)

Glocom góc đóng cấp cũng có thể xuất hiện trong viêm màng bồ đào trước kéo dài hoặc lệch thể thủy tinh.

Viêm màng bồ đào (chẩn đoán và điều trị)

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính. Tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Xước giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.

Thoát huyết dịch kính (chẩn đoán và điều trị)

Mắt không bị viêm và dấu hiệu chính của chẩn đoán là không thể quan sát đáy mắt mặc dầu thể thủy tinh vẫn trong suốt.

Khám mắt (chẩn đoán và điều trị)

Đo thị trường đối chiếu là một phương pháp rất có giá trị để phát hiện các thu hẹp thị trường.

Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh mắt (chẩn đoán và điều trị)

Thông thường sợ ánh sáng là do tình trạng viêm của giác mạc, không có thể thủy tinh, viêm màng bồ đào hoặc bạch tạng.

Tật khúc xạ (chẩn đoán và điều trị)

Trong loạn thị những tật khúc xạ ở các kinh tuyến dọc và ngang khác nhau. Có nhiều kỹ thuật phẫu thuật có giá trị để điều chỉnh tật khúc xạ, đặc biệt là cận thị.

Viêm giác mạc do tia cực tím (chẩn đoán và điều trị)

Khám bằng đèn khe sau khi tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng sẽ phát hiện chấm tỏa lan bắt mầu ở cả hai giác mạc.

Loét giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân than phiền bị đau nhức, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và giảm thị lực. Mắt đỏ, chủ yếu quanh rìa giác mạc, có thể có tiết dử mủ hoặc nước.

Đụng giập mắt (chẩn đoán và điều trị)

Một tổn thương đủ trầm trọng để gây chảy máu tiền phòng tạo nên nguy cơ thoát huyết tái phát, có thể gây glocom khó chữa và mất thị lực vĩnh viễn.

Hạt kết mạc góc mắt và mộng thịt (chẩn đoán và điều trị)

Hạt kết mạc góc mắt rất hiếm khi phát triển nhưng hiện tượng viêm có thể xuất hiện. Không cần thiết phải điều trị.

Kính tiếp xúc (sử dụng và biến chứng)

Loại kính sử dụng một lần không có nguy cơ gây loét giác mạc. Những hệ thống không dùng phương pháp rửa kính rất dễ gây viêm giác mạc do acanthamoeba.

Tổn thương xé rách ở mắt (chẩn đoán và điều trị)

Mắt được băng nhẹ và bảo vệ bằng một vỏ kim khí, dựa trên xương hốc mắt trên và dưới. Bệnh nhân cần được hướng dẫn không bóp vào mắt đã nhắm kín để mát càng yên càng tốt.

Xem theo danh mục