Những điều cần chú ý khi xử trí tổn thương mắt

Ngày: 27 - 8 - 2016

Cảm giác bỏng hoặc đau nhức được tạo nên do tra thuốc hoặc đặt kính tiếp xúc, đôi khi xơ hóa hoặc sẹo hóa kết giác mạc có thể xuất hiện.


Dùng thuốc tê tại chỗ

Tự tra thuốc, không có sự kiểm tra của thầy thuốc nguy hiểm vì bệnh nhân có thể gây tổn thương thêm cho mắt đã được gây tê mà không biết. Thuốc cũng có thể ảnh hưởng đến qúa trình khỏi bệnh mắt.

Làm giãn đồng tử

Rất nhiều khi gây giãn đồng tử sẽ tạo cơn glocom cấp nếu bệnh nhân có tiền phòng hẹp. Do đó làm giãn đồng tử phải thật thận trọng nếu tiền phòng rõ ràng bị thu hẹp (qua kiểm tra bằng ánh sáng chéo tiền phòng).

Nên dùng một loại thuốc có tác dụng ngắn như tropicamid và dặn bệnh nhân trở lại ngay nếu thấy khó chịu và mắt đỏ.

Góc khép thường xuất hiện nhiều hơn nếu dùng pilocarpin để chống lại đồng tử giữa rộng hơn so với để đồng tử tự co.

Điều trị corticosteroid tại chỗ

Dùng corticosteroid liên tục sẽ gây nguy cơ bị herpes simplex(chân rết), nhiễm nấm, glocom góc mở và đục thể thủy tinh. Hơn nữa, thủng giác mạc có thể xuất hiện khi corticosteroid được dùng trong viêm giác mạc do herpes simplex.

Thuốc tra mắt bị nhiễm khuẩn

Thuốc nước tra mắt cũng phải được pha chế với mức độ an toàn như dung dịch tiêm tĩnh mạch, nhưng mỗi khi chai hoặc lọ thuốc đã mở bao giờ cũng có nguy cơ bị nhiễm khuẩn, đặc biệt với dung dịch tetracain, propacain, flucorescein và bất cứ chế phẩm nào tự pha. Thuốc nguy hiểm nhất là thuốc nhuộm huỳnh quang, vì dung dịch này hay bị nhiễm khuẩn mủ xanh, một tác nhân có thể nhanh chóng gây mù mắt. Giấy thấm thuốc nhuộm huỳnh quang ngày nay được ưa dùng hơn thuốc tra. Dù là chai nhựa hay thủy tinh, dung dịch nước không được dùng kéo dài sau khi chai thuốc đã mở thời hạn 4 tuần lễ được coi là thời hạn tối đa trước khi bỏ thuốc thuốc pha chế để tự bảo quản cần được giữ trong tủ lạnh và bỏ không dùng sau 1 tuần. Bất cứ một dung dịch nào dĩ nhiên cần phải được kiểm tra phát hiện các dấu hiệu nhiễm khuẩn trước khi dùng.

Khi mắt đã bị tổn thương do tai nạn hoặc do phẫu thuật, rất cần dùng các dung dịch thuốc ở các chai mới mở hoặc dùng các thuốc cho một lần sử dụng.

Phản ứng độc và qúa mẫn với điều trị tại chỗ

Bệnh nhân được điều trị tại chỗ lâu dài có thể phát triển phản ứng độc hoặc qúa mẫn với thuốc điều trị hay thuốc bảo quản, đặc biệt khi nước mắt tiết ra qúa mức. Thuốc bảo quản đối với kính tiếp xúc (để rửa kính) cũng có thể gây các vấn đề tương tự.

Cảm giác bỏng hoặc đau nhức được tạo nên do tra thuốc hoặc đặt kính tiếp xúc, đôi khi xơ hóa hoặc sẹo hóa kết giác mạc có thể xuất hiện.

Một kháng sinh tra vào mắt có thể làm cho bệnh nhân bị mẫn cảm với kháng sinh đó và gây tình trạng qúa mẫn với thuốc đó khi dùng toàn thân sau này.

Bảng. Hiệu qủa trái ngược trên mắt của thuốc toàn thân

Thuốc

Khả năng gây phản ứng phụ

Thuốc hô hấp

Oxy

Tổn thương võng mạc của trẻ đẻ non

Rối loạn nhìn màu, manh

Thuốc tim mạch

Digitalin

Viêm thị thần kinh (hiếm)

Quinidin

Nhìn thấy màu xanh, màu vàng; cận thị

Thiazid (Diuril v.v.)

Hạ nhãn áp, cận thị nhất thời

Ức chế anhydrase carbonic

Kết tủa trên giác mạc

Amiodaron

Sợ ánh sáng

Oxprendol

Kích thích mắt

Thuốc tiêu hóa

Thuốc chống tiết cholin

Nguy cơ glocom góc đóng do giãn đồng tử

Mờ mắt do liệt nhãn cầu (đôi khi)

Thuốc thần kinh trung ương

Barbiturat

Liệt vận nhãn với song thi, mù vỏ não

Hydrat chloral

Song thị - Sụp mi - Co đồng tử

Phenothiazin

Chất lắng đọng, sắc tố trên kết giác mạc - Thể thủy tinh và võng mạc

Amphetamin

Cơn xoay mắt

Khe mắt mỡ to - Đồng tử tán rộng - Liệt cơ thể mi - Liệt điều tiết

Ức chế monoamin oxydase

Rung giật nhãn cầu - Liệt vận nhãn. Teo gai

Tác nhân tricyclic

Tán đồng tử (nguy cơ glocom góc đóng), liệt nhãn cầu

Phenytoin

Rung giật nhãn cầu - Song thị - Sụp mi - Nhìn mờ nhẹ (hiếm)

Neostigmin

Rung giật nhãn cầu co đồng tử

Morphin

Co đồng tử

Haloperidon

Đục vỏ thế thủy tinh

Lithium carbonat

Lồi mắt - Cơn xoáy nhãn cầu

Diazepam

Rung giật nhãn cầu

Hormon

Hormon sinh dục nữ

Đục thể thủy tinh vỏ sau, hay sau vỏ, mất miễn dịch tại chỗ gây dễ nhiễm virus (herpes simplex), nhiễm vi khuẩn, nhiễm nấm, glocom do steroid)

Corticosteroid

Tắc động mạch trung tâm võng mạc, tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc, phù gai thị, liệt vận nhẵn, song thị, rung giật nhãn cầu, tổn thương thị thần kinh, viêm mạch mạn võng mạc, điểm mù, đau nừa đầu, tán đồng tử, liệt nhãn cầu, phù hoàng điểm

Kháng sinh

Chloramphenicol

Viêm thị thần kinh, teo gai

Streptomycin

Viêm thị thần kinh

Tetracyclin

Giả u não, cận thị nhất thời

Thuốc chống sốt rét

Chloroquin v.v

Tổn thương hoàng diểm, điểm mù trung tâm, thoái hóa sắc tố võng mạc, tổn thương giác mạc do chloroquin, liệt vận nhãn, sụp mi. Thay đổi diện võng mạc

Thuốc chống amip

Lodochcorhydroxyquin

Teo gai

Tác nhân hóa học

 

Sulfonamid

Hội chứng Stevens - Johnson

Ethambutol

Viêm thi thần kinh và teo gai

lsoniazid

Viêm thi thần kinh và teo gai

Kim loại nặng

Muối vàng

Lắng dọng trên kết giác mạc

Chế phẩm có chì

Teo gai - Phù gai - Liệt vận nhãn

Chất chalat hóa

Penicillamin

Pemphicoid nhãn cầu - Viêm thị thần kinh nhược cơ

Thuốc uống họ đường huyết

Chrorpropamid

Thay đổi khúc xạ nhất thời, song thị, hội chứng Stevens - Johnson

Vitamin

Vitamin A

Phù gai - Thoát huyết võng mạc - Rụng lông mày lông mi, rung giật, nhãn cầu, nhìn mờ, song thị

Vitamin C

Viêm giác mạc dải băng

Thuốc chống thấp khớp

Salicylat

Rung giật nhãn cầu, thoát huyết võng mạc

Indomethacin

Mù vỏ não (hiếm)

Phenylbutazon

Đám lắng dọng trên giác mạc thoát huyết võng mạc

 

Ảnh hưởng toàn thân của thuốc tra mắt

Sự thẩm thấu vào cơ thể của thuốc tại chỗ (qua mạch máu kết mạc và hệ thống dẫn lệ) cần được lưu ý khi có một phản chỉ định toàn thân để dùng thuốc. Dung dịch mắt của những chất ức chế bêta như timolol, levobunolol và metipranolol có thể làm nặng thêm các tổn thương cơ tim và hen. Mỡ atropin chỉ định cho trẻ em tốt hơn là dạng nước vìdung dịch atropin  1% tra mắt có thể gây độc. Thuốc tra phenylephrin có thể gây cơn tăng huyết áp và đau thắt ngực. Cũng cần lưu ý đến tác dụng chống đối giữa thuốc toàn thân và tại chỗ. Chỉ cần 1 hay 2 giọt một thời gian và trong vài ba phút bịt ống lệ quản hoặc nhắm mi mắt sẽ gây nên tác dụng tối đa và giảm ảnh hưởng đối với toàn thân của thuốc tại chỗ. 


Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Viêm kết mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Bong võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.

Viêm kết mạc và giác mạc do hóa chất (chẩn đoán và điều trị)

Cần bắt đầu ngay tra kháng sinh tại chỗ. Trong bỏng vừa và nặng, cần tra nhiều corticoid và vitamin C tại chỗ và toàn thân.

Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi cao (chẩn đoán và điều trị)

Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm.

Tắc động mạch và tắc nhánh trung tâm võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ (lẹo, chắp, khối u, viêm bờ mi túi lệ, cụp lộn mi)

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Tắc tĩnh mạch và tắc nhánh trung tâm vong mạc (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch võng mạc cần được gửi ngay tới bác sỹ nhãn khoa để xác định chẩn đoán và xử trí.

Glocom góc mở (chẩn đoán và điều trị)

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Nguyên tắc điều trị các nhiễm khuẩn mắt (chẩn đoán và điều trị)

Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước.

Đục thể thủy tinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngay ở các giai đoạn sớm nhất, đục thể thủy tinh có thể thấy được qua đồng tử tán rộng khi soi máy đáy mắt, đèn khe, hoặc bằng một ánh sáng cầm tay.

Mù mắt thoáng qua (chẩn đoán và điều trị)

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Viêm màng bồ đào (chẩn đoán và điều trị)

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính. Tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Glocom cấp (góc đóng, chẩn đoán và điều trị)

Glocom góc đóng cấp cũng có thể xuất hiện trong viêm màng bồ đào trước kéo dài hoặc lệch thể thủy tinh.

Thoát huyết dịch kính (chẩn đoán và điều trị)

Mắt không bị viêm và dấu hiệu chính của chẩn đoán là không thể quan sát đáy mắt mặc dầu thể thủy tinh vẫn trong suốt.

Xước giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.

Khám mắt (chẩn đoán và điều trị)

Đo thị trường đối chiếu là một phương pháp rất có giá trị để phát hiện các thu hẹp thị trường.

Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh mắt (chẩn đoán và điều trị)

Thông thường sợ ánh sáng là do tình trạng viêm của giác mạc, không có thể thủy tinh, viêm màng bồ đào hoặc bạch tạng.

Tật khúc xạ (chẩn đoán và điều trị)

Trong loạn thị những tật khúc xạ ở các kinh tuyến dọc và ngang khác nhau. Có nhiều kỹ thuật phẫu thuật có giá trị để điều chỉnh tật khúc xạ, đặc biệt là cận thị.

Viêm giác mạc do tia cực tím (chẩn đoán và điều trị)

Khám bằng đèn khe sau khi tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng sẽ phát hiện chấm tỏa lan bắt mầu ở cả hai giác mạc.

Loét giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân than phiền bị đau nhức, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và giảm thị lực. Mắt đỏ, chủ yếu quanh rìa giác mạc, có thể có tiết dử mủ hoặc nước.

Đụng giập mắt (chẩn đoán và điều trị)

Một tổn thương đủ trầm trọng để gây chảy máu tiền phòng tạo nên nguy cơ thoát huyết tái phát, có thể gây glocom khó chữa và mất thị lực vĩnh viễn.

Hạt kết mạc góc mắt và mộng thịt (chẩn đoán và điều trị)

Hạt kết mạc góc mắt rất hiếm khi phát triển nhưng hiện tượng viêm có thể xuất hiện. Không cần thiết phải điều trị.

Kính tiếp xúc (sử dụng và biến chứng)

Loại kính sử dụng một lần không có nguy cơ gây loét giác mạc. Những hệ thống không dùng phương pháp rửa kính rất dễ gây viêm giác mạc do acanthamoeba.

Tổn thương xé rách ở mắt (chẩn đoán và điều trị)

Mắt được băng nhẹ và bảo vệ bằng một vỏ kim khí, dựa trên xương hốc mắt trên và dưới. Bệnh nhân cần được hướng dẫn không bóp vào mắt đã nhắm kín để mát càng yên càng tốt.

Xem theo danh mục