Bong võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 25 - 7 - 2016

Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.


Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán

Nhìn mờ ở một mát, ngày càng nặng ("một bức rèm rủ dần trước mắt").

Không đau nhức, không đỏ.

Phát hiện bong qua soi đáy mắt.

Nhận định chung

Thông thường bong võng mạc xuất hiện ngẫu phát, xong cũng có khi thứ phát sáu chấn thương. Bong võng mạc ngẫu phát thường xuất hiện trên người từ 50 tuổi trở lên. Mổ lấy thể thủy tinh đục hoặc cận thị là hai nguyên nhân tiền thân phổ biến nhất.

Dấu hiệu lâm sàng

Ngay khi võng mạc bị rách, dịch kính có thể thấm qua vết rạch và khu trú sau võng mạc. Yếu tố này phối hợp với sự co kéo của dịch kính và yếu tố trọng lượng gây nên bong tiến triển. Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.

Thị lực trung tâm vẫn được duy trì cho đến khi hoàng điểm cũng bị bong.

Soi đáy mắt sẽ thấy võng mạc treo vào dịch kính như một đám mây màu xám. Một hoặc nhiều vết rách, thông thường hình lưỡi liềm, màu đỏ hoặc da cam thường có mặt và có thể phát hiện được bởi một thầy thuốc có kinh nghiệm.

Điều trị

Tất cả các trường hợp bong võng mạc cần được gửi ngay tới một thầy thuốc nhãn khoa. Khi vận chuyển, đầu của bệnh nhân cần được giữ ở tư thế mà phần võng mạc bong có thể áp xuống bởi trọng lượng.

Phẫu thuật hướng ngay về khép các vết rách. Việc làm dính vĩnh viễn giữa võng mạc cảm giác thần kinh, biểu mô sắc tố võng mạc và hắc mạc được tạo nên ở vùng bị rách bằng đông lạnh vào củng mạc hoặc đốt võng mạc bằng tia lazer. Nhằm mục đích áp võng mạc cảm giác thần kinh, khi chỗ dính đang phát triển có thể ấn vào củng mạc, với một bọt Silicon hoặc đai. Nước giữa phần võng mạc thần kinh cảm giác và biểu mô sắc tố võng mạc (nước dưới võng mạc) có thể dẫn lưu qua một vết rạch củng mạc và có thể bơm một chất hơi nở vào buồng dịch kính).

Một vài loại bong võng mạc không có biến chứng có thể điều trị bằng kỹ thuật cố định võng mạc bằng hơi trong đó khởi đầu bơm hơi nở vào buồng dịch kính, sau đó đặt đầu bệnh nhân trong tư thế thuận lợi cho võng mạc dễ áp sát. Một khi võng mạc đã được áp lại rồi, vết rách được hàn bằng quang đông bằng lazer hoặc đông lạnh. Tất cả các giai đoạn của phẫu thuật có thể tiến hành bằng gây tê tại chỗ như một kỹ thuật thường quy.

Giai đoạn cuối cùng là để gắn kín vết rách không gây bong nhằm mục đích phòng, bong sau này. Trong bong võng mạc toàn bộ - đặc biệt bong có sự phát triển của các tế bào sợi phát triển vào diện võng mạc hoặc trong buồng dịch kính. Việc gắn lại vết bong có thể chỉ cần cắt bỏ dịch kính, can thiệp trực tiếp vào võng mạc hoặc qua bơm hơi vào võng mạc, bơm khí nở, thậm chí dầu Silicon (sự hiện diện của một khí dãn nở là một phản chỉ định cho khí thường đi qua). Những khí này có thể tồn tại nhiều tuần lễ sau phẫu thuật).

Tiên lượng

Khoảng 80% các trường hợp không có biến chứng có thể chữa khỏi bằng một lần phẫu thuật. 15% còn lại đòi hỏi phẫu thuật tiếp, 5% còn lại không thể dính lại được.

Tiên lượng sẽ xấu hơn khi hoàng điểm bị bong hoặc khi võng mạc đã bị bong từ lâu. Nếu không điều trị, toàn bộ võng mạc sẽ bị bong trong vòng 6 tháng. Bong tự phát cuối cùng sẽ ở hai mắt với tỷ lệ 2 - 25% các trường hợp.


Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Viêm kết mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Bong võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.

Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi cao (chẩn đoán và điều trị)

Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm.

Viêm kết mạc và giác mạc do hóa chất (chẩn đoán và điều trị)

Cần bắt đầu ngay tra kháng sinh tại chỗ. Trong bỏng vừa và nặng, cần tra nhiều corticoid và vitamin C tại chỗ và toàn thân.

Tắc động mạch và tắc nhánh trung tâm võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ (lẹo, chắp, khối u, viêm bờ mi túi lệ, cụp lộn mi)

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Tắc tĩnh mạch và tắc nhánh trung tâm vong mạc (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch võng mạc cần được gửi ngay tới bác sỹ nhãn khoa để xác định chẩn đoán và xử trí.

Glocom góc mở (chẩn đoán và điều trị)

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Nguyên tắc điều trị các nhiễm khuẩn mắt (chẩn đoán và điều trị)

Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước.

Đục thể thủy tinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngay ở các giai đoạn sớm nhất, đục thể thủy tinh có thể thấy được qua đồng tử tán rộng khi soi máy đáy mắt, đèn khe, hoặc bằng một ánh sáng cầm tay.

Mù mắt thoáng qua (chẩn đoán và điều trị)

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Glocom cấp (góc đóng, chẩn đoán và điều trị)

Glocom góc đóng cấp cũng có thể xuất hiện trong viêm màng bồ đào trước kéo dài hoặc lệch thể thủy tinh.

Viêm màng bồ đào (chẩn đoán và điều trị)

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính. Tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Xước giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.

Thoát huyết dịch kính (chẩn đoán và điều trị)

Mắt không bị viêm và dấu hiệu chính của chẩn đoán là không thể quan sát đáy mắt mặc dầu thể thủy tinh vẫn trong suốt.

Khám mắt (chẩn đoán và điều trị)

Đo thị trường đối chiếu là một phương pháp rất có giá trị để phát hiện các thu hẹp thị trường.

Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh mắt (chẩn đoán và điều trị)

Thông thường sợ ánh sáng là do tình trạng viêm của giác mạc, không có thể thủy tinh, viêm màng bồ đào hoặc bạch tạng.

Tật khúc xạ (chẩn đoán và điều trị)

Trong loạn thị những tật khúc xạ ở các kinh tuyến dọc và ngang khác nhau. Có nhiều kỹ thuật phẫu thuật có giá trị để điều chỉnh tật khúc xạ, đặc biệt là cận thị.

Viêm giác mạc do tia cực tím (chẩn đoán và điều trị)

Khám bằng đèn khe sau khi tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng sẽ phát hiện chấm tỏa lan bắt mầu ở cả hai giác mạc.

Loét giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân than phiền bị đau nhức, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và giảm thị lực. Mắt đỏ, chủ yếu quanh rìa giác mạc, có thể có tiết dử mủ hoặc nước.

Đụng giập mắt (chẩn đoán và điều trị)

Một tổn thương đủ trầm trọng để gây chảy máu tiền phòng tạo nên nguy cơ thoát huyết tái phát, có thể gây glocom khó chữa và mất thị lực vĩnh viễn.

Hạt kết mạc góc mắt và mộng thịt (chẩn đoán và điều trị)

Hạt kết mạc góc mắt rất hiếm khi phát triển nhưng hiện tượng viêm có thể xuất hiện. Không cần thiết phải điều trị.

Kính tiếp xúc (sử dụng và biến chứng)

Loại kính sử dụng một lần không có nguy cơ gây loét giác mạc. Những hệ thống không dùng phương pháp rửa kính rất dễ gây viêm giác mạc do acanthamoeba.

Tổn thương xé rách ở mắt (chẩn đoán và điều trị)

Mắt được băng nhẹ và bảo vệ bằng một vỏ kim khí, dựa trên xương hốc mắt trên và dưới. Bệnh nhân cần được hướng dẫn không bóp vào mắt đã nhắm kín để mát càng yên càng tốt.

Xem theo danh mục