Di vật kết giác mạc (chẩn đoán và điều trị)


Ngày: 11 - 8 - 2016

Cần nhấn mạnh là biểu mô giác mạc nguyên vẹn là một hàng rào có ích để chống nhiễm khuẩn nhưng một khi biểu mô bị tổn thương nó sẽ rất dễ dàng bị nhiễm khuẩn.

Nếu một bệnh nhân than phiền "có một vật gì đó trong mắt" và kể câu chuyện cụ thể, thường là có một dị vật trên giác mạc hoặc ở kết mạc mí, dù cho dị vật khó thấy rõ. Cần đo thị lực trước khi điều trị để đối chiếu trong trường hợp có biến chứng.

Sau khi tra thuốc gây tê tại chỗ (như proparacain 0,5%), khám mắt bằng đèn cầm tay, dùng ánh sáng chéo và kính lúp. Dị vật giác mạc có thể phát hiện rõ hơn bằng tra thuốc nhuộm huỳnh quang fluorescein vô trùng. Sau đó lấy dị vật bằng một que bông ướt, vô trùng. Nên tra mỡ polymyxin-bacitracin. Không cần thiết bằng mắt nhưng nhất thiết phải khám bệnh nhân 24 giờ sau để phòng nhiễm trùng ở vị trí lấy dị vật bị đào sâu. Nếu không lấy được dị vật bằng cách trên, bệnh nhân cần được gửi tới bác sĩ nhãn khoa.

Thông thường, dị vật bằng thép để lại một vành nhân tỏa lan rỉ. Điểm này đòi hỏi phải gạt bỏ tổ chức bị tổn thương và tốt nhất là dùng đèn khe sau khi tra thuốc gây tê.

Chú ý: không được cấp thuốc gây tê cho bệnh nhân đem về để tự tra.

Nếu không có nhiễm khuẩn, một lớp biểu mô giác mạc sẽ phủ lên lỗ sâu giác mạc trong 24 giờ. Cần nhấn mạnh là biểu mô giác mạc nguyên vẹn là một hàng rào có ích để chống nhiễm khuẩn nhưng một khi biểu mô bị tổn thương nó sẽ rất dễ dàng bị nhiễm khuẩn. Nhiễm khuẩn sớm thể hiện bằng một diện hoại tử trắng bao quanh vết lõm sâu và một khối lựợng nhỏ tiết dịch xám. Những bệnh nhân này cần được gửi ngay tới bác sĩ chuyên khoa vì nhiễm khuẩn giác mạc không được điều trị sẽ dẫn đến loét giấc mạc trầm trọng, nhãn viêm thối mủ và mất mắt.

Khi dị vật khu trú ở kết mạc mi trên, tra thuốc gây tê và lộn mi bằng cách dùng tay đặt nhẹ vào lông mi rồi ấn vào phần giữa ngoài của mi trên bằng dụng cụ. Nếu thấy có dị vật, có thể lấy dị vật dễ dàng bằng một que bông vô trùng trên diện kết mạc.


Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Viêm kết mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Glocom góc mở (chẩn đoán và điều trị)

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ (lẹo, chắp, khối u, viêm bờ mi túi lệ, cụp lộn mi)

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Nguyên tắc điều trị các nhiễm khuẩn mắt (chẩn đoán và điều trị)

Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước.

Bong võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.

Viêm kết mạc và giác mạc do hóa chất (chẩn đoán và điều trị)

Cần bắt đầu ngay tra kháng sinh tại chỗ. Trong bỏng vừa và nặng, cần tra nhiều corticoid và vitamin C tại chỗ và toàn thân.

Tắc động mạch và tắc nhánh trung tâm võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia.

Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi cao (chẩn đoán và điều trị)

Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm.

Tắc tĩnh mạch và tắc nhánh trung tâm vong mạc (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch võng mạc cần được gửi ngay tới bác sỹ nhãn khoa để xác định chẩn đoán và xử trí.

Đục thể thủy tinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngay ở các giai đoạn sớm nhất, đục thể thủy tinh có thể thấy được qua đồng tử tán rộng khi soi máy đáy mắt, đèn khe, hoặc bằng một ánh sáng cầm tay.

Xước giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.

Mù mắt thoáng qua (chẩn đoán và điều trị)

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Viêm màng bồ đào (chẩn đoán và điều trị)

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính. Tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Kính tiếp xúc (sử dụng và biến chứng)

Loại kính sử dụng một lần không có nguy cơ gây loét giác mạc. Những hệ thống không dùng phương pháp rửa kính rất dễ gây viêm giác mạc do acanthamoeba.

Xem theo danh mục