Bệnh mắt do bệnh tuyến giáp trạng (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 10 - 8 - 2016

Biến chứng quan trọng nhất là giác mạc bị bộc lộ và thị thần kinh bị chèn ép, cả hai đều có thể dẫn đến giảm sút thị lực trầm trọng.


Bệnh của tuyến giáp trạng là một hội chứng lâm sàng gây nên bởi sự ngưng đọng của mucopolysaccharid và thẩm lậu tế bào kèm viêm mạn tính của tổ chức hốc mắt, đặc biệt vào các cơ ngoài nhãn cầu. Bệnh nhân có thể có biểu hiện rối loạn chức năng tuyến giáp trên lâm sàng hoặc trên các xét nghiệm, với kháng thể tuyến giáp cao thêm, hoặc không có sự bất bình thường nào được phát hiện ở ngoài hốc mắt.

Dấu hiệu lâm sàng đầu tiên là mắt lồi, mi mắt bị co kéo và mi mắt tích lại sau, phù nề kết mạc nhãn cầu và viêm thượng củng mạc, tổn thương cơ ngoài nhãn cầu do sự hạn chế vận động của các cơ. Dấu hiệu do hậu qủa của những tổn thương trên là sự giảm sút về mỹ quan, kích thích bề mặt nhưng thường đáp ứng tốt với nước mắt nhân tạo, có song thị, cần được điều trị bảo tồn (ví dụ dùng lăng kính) trong những giai đoạn hoạt tính của bệnh và chỉ dùng phẫu thuật khi bệnh ở tình trạng không thay đổi ít nhất 6 tháng.

Biến chứng quan trọng nhất là giác mạc bị bộc lộ và thị thần kinh bị chèn ép, cả hai đều có thể dẫn đến giảm sút thị lực trầm trọng. Điều trị bằng chống sự chèn ếp hốc mắt một cách cấp cứu, hoặc bằng thuốc với liều lượng cao corticosteroid (prednisolon 80 - 100mg/ngày) mặc dù thuốc chỉ có tác dụng trong thời gian ngắn, bằng điều trị X quang, hoặc tốt hơn cả bằng phẫu thuật, thông thường bằng cắt bỏ rộng rãi xương ở thành giữa và sàn hốc mắt.

Điều trị tối ưu của tổn thương tuyến giáp có mức độ trầm trọng vừa phải còn đang được bàn cãi. Steroid uống, chiếu tia X quang, hoặc chống chèn ép bằng phẫu thuật, tất cả đã được nêu lên, nhưng có nguy cơ của hiệu qủa phụ tại chỗ hoặc toàn thân từ cả 3 phương pháp.

Khâu cơ phía bên có thể áp dụng tới trường hợp giác mạc bị bộc lộ vừa phải hay trầm trọng. Các kỹ thuật xử trí mi mắt có kết qủa đặc biệt tốt đối với cơ kéo mi nhưng không được thực hiện cho đến khi tổn thương hốc mắt hoàn toàn yên. Việc giải chèn ép hốc mắt và phẫu thuật cơ ngoài nhãn cầu đã được tiến hành khi cần thiết.


Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Viêm kết mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Bong võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.

Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi cao (chẩn đoán và điều trị)

Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm.

Viêm kết mạc và giác mạc do hóa chất (chẩn đoán và điều trị)

Cần bắt đầu ngay tra kháng sinh tại chỗ. Trong bỏng vừa và nặng, cần tra nhiều corticoid và vitamin C tại chỗ và toàn thân.

Tắc động mạch và tắc nhánh trung tâm võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ (lẹo, chắp, khối u, viêm bờ mi túi lệ, cụp lộn mi)

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Tắc tĩnh mạch và tắc nhánh trung tâm vong mạc (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch võng mạc cần được gửi ngay tới bác sỹ nhãn khoa để xác định chẩn đoán và xử trí.

Glocom góc mở (chẩn đoán và điều trị)

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Nguyên tắc điều trị các nhiễm khuẩn mắt (chẩn đoán và điều trị)

Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước.

Đục thể thủy tinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngay ở các giai đoạn sớm nhất, đục thể thủy tinh có thể thấy được qua đồng tử tán rộng khi soi máy đáy mắt, đèn khe, hoặc bằng một ánh sáng cầm tay.

Mù mắt thoáng qua (chẩn đoán và điều trị)

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Glocom cấp (góc đóng, chẩn đoán và điều trị)

Glocom góc đóng cấp cũng có thể xuất hiện trong viêm màng bồ đào trước kéo dài hoặc lệch thể thủy tinh.

Viêm màng bồ đào (chẩn đoán và điều trị)

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính. Tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Xước giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.

Thoát huyết dịch kính (chẩn đoán và điều trị)

Mắt không bị viêm và dấu hiệu chính của chẩn đoán là không thể quan sát đáy mắt mặc dầu thể thủy tinh vẫn trong suốt.

Khám mắt (chẩn đoán và điều trị)

Đo thị trường đối chiếu là một phương pháp rất có giá trị để phát hiện các thu hẹp thị trường.

Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh mắt (chẩn đoán và điều trị)

Thông thường sợ ánh sáng là do tình trạng viêm của giác mạc, không có thể thủy tinh, viêm màng bồ đào hoặc bạch tạng.

Tật khúc xạ (chẩn đoán và điều trị)

Trong loạn thị những tật khúc xạ ở các kinh tuyến dọc và ngang khác nhau. Có nhiều kỹ thuật phẫu thuật có giá trị để điều chỉnh tật khúc xạ, đặc biệt là cận thị.

Viêm giác mạc do tia cực tím (chẩn đoán và điều trị)

Khám bằng đèn khe sau khi tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng sẽ phát hiện chấm tỏa lan bắt mầu ở cả hai giác mạc.

Loét giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân than phiền bị đau nhức, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và giảm thị lực. Mắt đỏ, chủ yếu quanh rìa giác mạc, có thể có tiết dử mủ hoặc nước.

Đụng giập mắt (chẩn đoán và điều trị)

Một tổn thương đủ trầm trọng để gây chảy máu tiền phòng tạo nên nguy cơ thoát huyết tái phát, có thể gây glocom khó chữa và mất thị lực vĩnh viễn.

Hạt kết mạc góc mắt và mộng thịt (chẩn đoán và điều trị)

Hạt kết mạc góc mắt rất hiếm khi phát triển nhưng hiện tượng viêm có thể xuất hiện. Không cần thiết phải điều trị.

Kính tiếp xúc (sử dụng và biến chứng)

Loại kính sử dụng một lần không có nguy cơ gây loét giác mạc. Những hệ thống không dùng phương pháp rửa kính rất dễ gây viêm giác mạc do acanthamoeba.

Tổn thương xé rách ở mắt (chẩn đoán và điều trị)

Mắt được băng nhẹ và bảo vệ bằng một vỏ kim khí, dựa trên xương hốc mắt trên và dưới. Bệnh nhân cần được hướng dẫn không bóp vào mắt đã nhắm kín để mát càng yên càng tốt.

Xem theo danh mục