Liệt vận nhãn (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 10 - 8 - 2016

Chấn thương là nguyên nhân chính mắc phải của dây IV, đặc biệt khi ở hai mắt những khối u trong não và những nguyên nhân giống như trong liệt dây III cũng cần được chú ý.


Trong liệt toàn bộ dây thần kinh III, sụp mi sẽ hoàn toàn, mắt lác ra ngoài và hơi bị nén xuống. Vận nhãn bị hạn chế về mọi phía, trừ liếc sang ngay (chức năng của cơ trực bên). Dây thần kinh số IV được nguyên vẹn (cơ chéo trên) được phát hiện bằng sự hiện diện của sự vòng quay vòng vào trong khi thử ấn vào mắt. Sự tổn thương của đồng tử (đồng tử tán). Không phản xạ với điều tiết hoặc ánh sáng là một dấu hiệu quan trọng để phân biệt nguyên nhân "nội khoa" hoặc "phẫu thuật" của liệt dây III đơn lẻ. Tổn thương do chèn ép của dây III, ví dụ như phình mạch của động mạch giao thông sau và sự thoát vị do tổn thương lớn dưới lều hay đặc trưng có tổn thương của đồng tử.

Thiết yếu đối với bệnh nhân có liệt dây III đơn lẻ kèm theo tổn thương đồng tử phải được kiểm tra về sự hiện diện của một phình mạch của động mạch thông sau, cho đến khi loại trừ được bằng mạch ký động mạch não. Và như vậy cần gửi ngay bệnh nhân đến thầy thuốc phẫu thuật thần kinh để xử trí. Nguyên nhân của liệt đơn lẻ dây III bao gồm đái tháo đường, tăng huyết áp, giang mai và viêm mạch máu tế bào khổng lồ.

Liệt dây IV gây lệch mắt lên trên kèm theo không thể ép khi 2 mắt liếc ra ngoài. Có song thị dọc nổi rõ hơn khi bệnh nhân cố gắng đọc sách hoặc xuống thang gác. Nhiều nguyên nhân liệt đơn lẻ dây IV là do một tổn thương bẩm sinh không được bù trừ. Chấn thương là nguyên nhân chính mắc phải của dây IV, đặc biệt khi ở hai mắt những khối u trong não và những nguyên nhân giống như trong liệt dây III cũng cần được chú ý.

Liệt dây VI, gây lác quy tụ trong tư thế nguyên phát, với sự mất khả náng nhìn ra phía ngoài của mắt đau, gây song thị ngang tăng lên khi nhìn tập trung vào phía bị tổn thương và khi nhìn ra xa. đó là dấu hiệu quan trọng của tăng áp lực sọ não đặc biệt 'trên trẻ em. Liệt dây VI cũng có thể do chấn thương, khối u, tổn thương thận não, hoặc nguyên nhân nội khoa.

Liệt tổn thương lớn trong hốc mắt hoặc trong não cần được lưu ý trên bất cứ bệnh nhân nào bị liệt một dây thần kinh vận nhãn. Trên các bệnh nhân bị liệt một dây vận nhãn đơn lẻ phải chú ý đến các nguyên nhân nội khoa. Cần tiến hành chụp CT hoặc MRI nếu không phục hồi được trong vòng 3 tháng.

Liệt thần kinh vận nhãn xuất hiện phối hợp với các dấu hiệu thần kinh khác có thể do các tổn thương của thân não bao quanh xoang hang hoặc trong hốc mắt. Tổn thương bao quanh xoang hang bao gồm các nhánh chia trên của dây thần kinh ba đầu, thần kinh vận nhãn, và đôi khi giao thoa thị giác. Tổn thương đỉnh hốc mắt bao gồm thần kinh thị giác và thần kinh vận nhãn.

Nhược cơ và bệnh mắt do tuyến giáp trạng bao giờ cũng cần được lưu ý trong chẩn đoán phân biệt với tổn thương liệt vận nhãn.


Bài xem nhiều nhất

Phù gai thị (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thị thần kinh gây giảm thị lực, nhiều khi có điểm mù trung tâm, mất cảm nhận màu sắc và tổn thương đồng tử tương đối do thần kinh quy tâm.

Viêm kết mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt giữa viêm kết mạc và viêm màng bồ đào cấp, glocom cấp và tổn thương giác mạc.

Bong võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Vùng thái dương trên là vị trí phổ biến nhất của bong. Diện bong ngày càng phát triển nhanh chóng, làm cho thị lực cũng mất theo tương ứng.

Thoái hóa hoàng điểm liên quan đến tuổi cao (chẩn đoán và điều trị)

Trong thoái hóa tiết dịch, giảm thị lực bắt đầu nhanh hơn, mức độ nặng hơn và cả hai mắt bị đau nối tiếp nhau trong khoảng vài ba năm.

Viêm kết mạc và giác mạc do hóa chất (chẩn đoán và điều trị)

Cần bắt đầu ngay tra kháng sinh tại chỗ. Trong bỏng vừa và nặng, cần tra nhiều corticoid và vitamin C tại chỗ và toàn thân.

Tắc động mạch và tắc nhánh trung tâm võng mạc (chẩn đoán và điều trị)

Viêm tĩnh mạch do tế bào khổng lồ cần được loại trừ đối với tất cả bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt do nguy cơ rất cao trong những ngày đầu của tổn thương ở mắt bên kia.

Tổn thương mí mắt và lệ bộ (lẹo, chắp, khối u, viêm bờ mi túi lệ, cụp lộn mi)

Chắp là một loại u hạt của tuyến Meibomius có thể tiếp theo lẹo. Nó được đặc trưng bằng phù nề, chắc nhưng không căng của mí trên hoặc mí dưới.

Tắc tĩnh mạch và tắc nhánh trung tâm vong mạc (chẩn đoán và điều trị)

Tất cả bệnh nhân bị tắc tĩnh mạch võng mạc cần được gửi ngay tới bác sỹ nhãn khoa để xác định chẩn đoán và xử trí.

Glocom góc mở (chẩn đoán và điều trị)

Trong glocom góc mở, nhãn áp cao thường xuyên sau nhiều năm, nhiều tháng, hậu qủa sẽ là teo gai thị với mất thị lực đi từ thu hẹp nhẹ của thị trường phía giữa trên đến mù hoàn toàn.

Nguyên tắc điều trị các nhiễm khuẩn mắt (chẩn đoán và điều trị)

Sulfomid còn có thuận lợi thêm là ít gây dị ứng và có tác dụng chống nhóm chlamydia. Thuốc có thể dùng dưới dạng mỡ hoặc nước.

Đục thể thủy tinh (chẩn đoán và điều trị)

Ngay ở các giai đoạn sớm nhất, đục thể thủy tinh có thể thấy được qua đồng tử tán rộng khi soi máy đáy mắt, đèn khe, hoặc bằng một ánh sáng cầm tay.

Mù mắt thoáng qua (chẩn đoán và điều trị)

Trên các bệnh nhân không có bệnh ở động mạch cảnh, hoặc ở tim, đặc biệt trên người trẻ, mù mắt, thoảng qua được nghĩ đến là do co thắt mạch máu võng mạc.

Glocom cấp (góc đóng, chẩn đoán và điều trị)

Glocom góc đóng cấp cũng có thể xuất hiện trong viêm màng bồ đào trước kéo dài hoặc lệch thể thủy tinh.

Viêm màng bồ đào (chẩn đoán và điều trị)

Trong viêm màng bồ đào sau có tế bào viêm trong dịch kính. Tổn thương viêm có thể có ở võng mạc và hắc mạc.

Xước giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Nếu nghi ngờ có trầy xước giác mạc mà không phát hiện được cần tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng vào túi kết mạc.

Thoát huyết dịch kính (chẩn đoán và điều trị)

Mắt không bị viêm và dấu hiệu chính của chẩn đoán là không thể quan sát đáy mắt mặc dầu thể thủy tinh vẫn trong suốt.

Khám mắt (chẩn đoán và điều trị)

Đo thị trường đối chiếu là một phương pháp rất có giá trị để phát hiện các thu hẹp thị trường.

Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh mắt (chẩn đoán và điều trị)

Thông thường sợ ánh sáng là do tình trạng viêm của giác mạc, không có thể thủy tinh, viêm màng bồ đào hoặc bạch tạng.

Tật khúc xạ (chẩn đoán và điều trị)

Trong loạn thị những tật khúc xạ ở các kinh tuyến dọc và ngang khác nhau. Có nhiều kỹ thuật phẫu thuật có giá trị để điều chỉnh tật khúc xạ, đặc biệt là cận thị.

Viêm giác mạc do tia cực tím (chẩn đoán và điều trị)

Khám bằng đèn khe sau khi tra thuốc nhuộm huỳnh quang vô trùng sẽ phát hiện chấm tỏa lan bắt mầu ở cả hai giác mạc.

Loét giác mạc (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân than phiền bị đau nhức, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và giảm thị lực. Mắt đỏ, chủ yếu quanh rìa giác mạc, có thể có tiết dử mủ hoặc nước.

Đụng giập mắt (chẩn đoán và điều trị)

Một tổn thương đủ trầm trọng để gây chảy máu tiền phòng tạo nên nguy cơ thoát huyết tái phát, có thể gây glocom khó chữa và mất thị lực vĩnh viễn.

Hạt kết mạc góc mắt và mộng thịt (chẩn đoán và điều trị)

Hạt kết mạc góc mắt rất hiếm khi phát triển nhưng hiện tượng viêm có thể xuất hiện. Không cần thiết phải điều trị.

Kính tiếp xúc (sử dụng và biến chứng)

Loại kính sử dụng một lần không có nguy cơ gây loét giác mạc. Những hệ thống không dùng phương pháp rửa kính rất dễ gây viêm giác mạc do acanthamoeba.

Tổn thương xé rách ở mắt (chẩn đoán và điều trị)

Mắt được băng nhẹ và bảo vệ bằng một vỏ kim khí, dựa trên xương hốc mắt trên và dưới. Bệnh nhân cần được hướng dẫn không bóp vào mắt đã nhắm kín để mát càng yên càng tốt.

Xem theo danh mục