Nấm tay và chân (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 15 - 6 - 2016

Nấm ở chân là loại bệnh da cấp hoặc mạn tính hay gặp. Một số cá thể hay bị bệnh hơn người khác. Hầu hết các trưồng hơn đều do Trichophyton và Epidemophyton gây nên.

Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán

Hầu hết đều là thương tổn có vảy nhưng không có triệu chứng.

Có thể tiến tới nứt nẻ, chảy nước ở kẽ chân.

Đôi khi có ngứa, rát, và buốt ở kẽ ngón tay, chân. Có mụn nước sâu trong những trường hợp viêm.

Xác định bằng soi tươi và nuôi cấy nấm.

Đánh giá chung

Nấm ở chân là loại bệnh da cấp hoặc mạn tính hay gặp. Một số cá thể hay bị bệnh hơn người khác. Hầu hết các trưồng hơn đều do Trichophyton và Epidemophyton gây nên.

Trỉệu chứng và dấu hiệu

Có thể có ngứa. Tuy nhiên, có triệu chứng khác như rát, buốt và cảm giác khác. Hiếm gặp đau do nhiễm khuẩn thứ phát và biến chứng viêm nội tế bào, viêm hạch và mạch bạch huyết. Nấm chân có biểu hiện khác nhau ở những vị trí khác nhau. Ở lòng bàn chân và gót chân, nấm có thể xất hiện như một viêm mạn có vảy, đôi khi thượng bì dày và nứt nẻ. Nó có thể lan rộng ra như "giày da đanh". Soi tươi nấm trong KOH dương tính. Nấm ở kẽ chân thường có vảy và nứt nẻ, có khi trợt ra và chảy nước nhiều. Khi kẽ chân trở nên ẩm ướt thì soi tươi và nuôi cấy tìm nấm thường âm tính vì có sự xâm nhập của vi khuẩn. Cuối cùng nấm chân cũng có thể biểu hiện là những nhóm mụn nước khu trú ở tay hoặc chân, có thể có bong vảy ở toàn bộ da chân, hoặc rối loạn màu sắc của móng, dày móng và vụn nền móng.

Xét nghiệm

Lấy vảy từ thương tổn, cho vào KOH 10% sẽ thấy các sợi nấm khi soi dưới kính hiển vi. Nuôi cấy trong môi trường Sabouraud đơn giản và có hiệu quả nhưng không phải lúc nào cũng xác định được nấm gây bệnh từ các thương tổn trợt và chảy nước.

Chẩn đoán phân biệt

Cần chẩn đoán phân biệt với những bệnh khác khu trú ở cùng một vị trí, như bệnh nấm corynebacterium minutissimum kẽ chân (kiểm tra bằng đèn Wood), bệnh nấm candida (nuôi cấy), viêm kẽ chân. Viêm kẽ chân được chẩn đoán khi không tìm thấy nấm bằng các kỹ thuật xét nghiệm, và không đáp ứng với các thuốc chống nấm, và đáp ứng với các thuốc được mô tả ở dưới. Vảy nến có thể gây vảy mạn tính ở lòng bàn tay, bàn chân và làm biến đổi móng. Tìm nấm nhiều lần âm tính, và không đáp ứng thuốc chống nấm. Viêm da tiếp xúc (với giày, phấn, thuốc đánh móng) thương tổn có ở mu tay, mu chân, và đáp ứng với thuốc bôi và uống steroid. Thương tổn mụn nước cần chẩn đoán phân biệt với tổ đỉa và ghẻ bằng kỹ thuật cạo mụn nước. Hiếm khi các vi khuẩn gram âm gây viêm kẽ chân ở giai đoạn trước nấm hoặc khi vắng mặt nó. Nuôi cấy không đặc hiệu lắm, bởi vì vi khuẩn gram âm có thể tìm thấy ở các kẽ chân bình thường. Nhiễm khuẩn gram âm thường dùng muối nhôm và thuốc chống nấm imidazol hoặc ciclopirox.

Phòng bệnh

Yếu tố cần thiết để phòng bệnh là vệ sinh cá nhân. Dép cao su và gỗ chỉ nên đi ở nơi tắm, mặc dù điều này chưa được nghiên cứu. Lau khô cẩn thận các kẽ ngón sau tắm là rầt cần thiết. có thể dùng sấy tóc nấc nhỏ sấy khô trước khi mặc quần áo. Tất nên thay thường xuyên. Dùng phấn có chứa chất chống nấm, hoặc dùng lâu dài kem chống nấm có thể phòng được tái phát.

Điều trị

Biệnphap tại chỗ

Chú ý: Không nên dùng quá liều.

Giai đoạn trợt và chày nước: Dùng dung dịch aluminum subacetat ngâm 20phút/lần, ngâm 2 - 3 lần/ngày. Nếu như có nhiễm khuẩn thứ phát hoặc có biến chứng, điều trị như trong loét do nằm lâu. Viêm kẽ ngón chân có thể đáp ứng dung dịch aluminum chlorid 30% hoặc thuốc màu carbolíuchsin hơn là thuốc chống nấm. Dung dịch và kem chống nấm có phổ rộng (có chứa imidazol hoặc ciclopirox) thay thế tolnaftat và haloprogin sẽ giúp chống lại các trực khuẩn và các vi khuẩn gram dương khác có trong giai đoạn này và một mình có thể điều trị được bệnh.

Giai đoạn vảy và khô: Có thể dùng bất kỳ loại thuốc nào nói ở phần thuốc điều trị nấm tóc. Phương pháp cũ là (1) dùng mỡ hoặc kem sulfur - salicylic - acid; (2) mỡ Whitfield 25 - 50%;(3) Dung dịch cồn Whitfield và (4) phức hợp mỡ acid. undecylenic bôi 2 lần/ ngày.

Toàn thân

Griseofulvin chỉ nên dùng cho những trường hợp nặng hoặc kháng thuốc bôi. Nếu như bệnh khỏi khi điều trị bằng thuốc chống nấm toàn thân, thì nên khuyên bệnh nhân nên tiếp tục duy trl bằng thuốc bôi, vì tái phát rất hay xảy ra. Ketoconazol, 200mg/ngày, uống có hiệu qủa khi bệnh khônng đáp ứng với griseofulvin, mặc dù tái phát có thể xảy ra sau khi ngừng thuốc. Có thể gây độc cho gan khi điều trị bằng thuốc này. Itraconazol, một thuốc uống chống nấm mới, rất có hiệu quả để làm giảm nhiễm dermatophyte kháng thuốc, nhưng thuốc đắt mà cũng không phòng được tái phát. Liều 100mg/ngày trong 1- 3 tháng.

Tiên lượng

Đối với nhiều trường hợp, bệnh trở nên mạn tính, điều trị toàn thân có thể khỏi tạm thời rồi lại tái phát. Điều trị nhiễm nấm móng chân cái rất khó khăn, và ở một vài trường hợp móng trở thành ổ chứa nấm.

Bài xem nhiều nhất

Rối loạn sắc tố da (chẩn đoán và điều trị)

Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.

Hồng ban nút (chẩn đoán và điều trị)

Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.

Hồng ban đa dạng (chẩn đoán và điều trị)

Hồng ban đa dạng là một bệnh da cấp tính đa hình thái do nhiều nguyên nhân gây nên hoặc do một nguyên nhân không xác định.

Bệnh Pemphigus (chẩn đoán và điều trị)

Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.

Viêm da bong vảy (chứng đỏ da tróc vảy, chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.

Bệnh vảy nến (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Bệnh Zona (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.

Viêm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.

Viêm da dị ứng tiếp xúc (chẩn đoán và điều trị)

Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.

Bệnh nấm móng (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm móng thường khó điều trị vì đòi hỏi thời gian điều trị dài và bệnh hay tái phát. Nấm móng tay đáp ứng điều trị tốt hơn nấm móng chân.

Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da

Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.

Rụng tóc (hói, chẩn đoán và điều trị)

Rụng tóc do sẹo thường là rụng tóc vĩnh viễn và không thay đổi được. Không có thuốc nào có thể chữa được trừ khi phẫu thuật cấy tóc.

Tổ đỉa (chẩn đoán và điều trị)

Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.

Nấm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.