Một số bệnh da có bọng nước (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 2 - 7 - 2016

Các bọng nước xuất hiện đầu tiên ở vùng quanh rốn và có thể có các mảng hoặc các nốt đỏ, mụn nước và bọng nước lớn.

Có rất nhiều các rối loạn về da có biểu hiện sự hình thành bọng nước. Các bệnh này bao gồm dạng pemphigus bọng nước, dạng pemphigus sẹo, viêm da dạng herpes, herpes do thai nghén, và các rối loạn có bọng nước ít gặp khác bao gồm các bệnh bọng nước do cơ học tạo thành nhóm bệnh bong biểu bì mọng nước do sai sót trong quá trinh tổng hợp keratin biểu bì.

Dạng Pemyhigus bọng nước

Dạng pemyhigus bọng nước là một bệnh ngứa tương đối lành tính được đặc trưng bởi các bọng nước căng ở các vùng gấp nếp, điển hình ở người lớn tuổi, thường thuyên giảm trong 5 hoặc 6 năm với một tiến trinh đặc trưng bởi sự tăng và thuyên giảm bệnh. Khoảng một phần ba số người bị bệnh có các tổn thương ở miệng. Rất hiềm khi người trẻ tuổi bị mắc bệnh. Bệnh có thể xuất hiện dưới nhiều dạng khảc nhau, bao gồm tổn thương khu trú, mụn nước, sùi, ban đỏ, đỏ da và u. Không có liên hệ về thống kê với các bệnh ác tính bên trong.

Việc chẩn đoán dựa trên phép sinh thiết và tiếp theo là hiển vi miễn dịch huỳnh quang. Dưới kính hiện vi sáng có thể thấy một bọhg nước dưới biểu bì. Bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang trực tiếp, người tá thường tìm thấy IgG và C3, cùng lúc với các immunoglubulin khác và các thành phần bổ thể. Mặc dù rất ít khi phải dùng đến hiển vi điện tử huỳnh quang cho chẩn đoán nhưng nó định vị chất lắng của IgG và C3 vào lamen lucida của màng dáy. Có thể tìm thấy các kháng thể kháng màng đáy màng lưu hành trong huyết thanh của các bệnh nhân trong khoảng 70% các trường hợp.

Corticosteroid là cách điều trị được lựa chọn. Một số chuyên gia còn dùng thêm methotrexat, azathioprin hoặc cyclophosphamid. Trong một số trường hợp có thể dùng sulfapyridin hoặc dapson. Mặc dù tác dụng lúc ban đầu chậm hơn nhưng dùng tetracyclin hoặc erythromycin, 1 - 1,5g/ngày kết hợp với nicotinamid - chứ không phải là acid nicotinic (cho đến 1,5g/ngày) nếu bệnh nhân chịu thuốc có thể kiểm soát được bệnh đối với những bệnh nhân không thể dùng được corticosteroid. Steroid bôi hiệu lực cao có thể kiểm soát khu trú sớm các thương tổn.

Herpes do thai nghén

Herpes do thai nghén xảy ra khoảng 1 trên 50.000 đến 60.000 phụ nữ có thai. Các bọng nước xuất hiện đầu tiên ở vùng quanh rốn và có thể có các mảng hoặc các nốt đỏ, mụn nước và bọng nước lớn. Bệnh thường xuất hiện vào tháng có thai thứ 5 hay thứ 6 hoặc có thể chậm lại cho tối sau khi sinh. Bệnh tự khỏi nhưng nó có thể tái phát vào lần có thai sau. Việc dùng estrogen hay progesteron hay lúc bắt dầu kinh nguyệt có thể kích thích phát bệnh. Nguy cơ đối với bà mẹ và thai nhi có vẻ ít nặng nề hơn là trước đây người ta vẫn nghĩ. Các bọng nước nằm ở dưới biểu bì với biểu hiện của các bạch cầu ái toan. Miễn dịch huỳnh quang trực tiếp cho thấy có C3 ở vùng màng đáy trong hầu hết các trường hợp. IgG ít được tìm thấy hơn. Yếu tố herpes do thai nghén là một kháng thể IgG cố định bổ thể tìm thấy trong huyết thanh nhưng hiếm khi thấy trong vùng màng đáy.

Corticosteroid là cách điều trị được lựa chọn và đôi khi chỉ có hiệu quả khi bôi corticosteroid.

Bài xem nhiều nhất

Rối loạn sắc tố da (chẩn đoán và điều trị)

Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.

Hồng ban nút (chẩn đoán và điều trị)

Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.

Hồng ban đa dạng (chẩn đoán và điều trị)

Hồng ban đa dạng là một bệnh da cấp tính đa hình thái do nhiều nguyên nhân gây nên hoặc do một nguyên nhân không xác định.

Viêm da bong vảy (chứng đỏ da tróc vảy, chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.

Bệnh Pemphigus (chẩn đoán và điều trị)

Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.

Bệnh vảy nến (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Viêm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Bệnh Zona (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.

Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.

Viêm da dị ứng tiếp xúc (chẩn đoán và điều trị)

Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.

Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da

Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.

Nấm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.

Tổ đỉa (chẩn đoán và điều trị)

Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.

Viêm da dạng herpes (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.

Chàm thể tạng (bệnh da có vảy, chẩn đoán và điều trị)

Chàm thể tạng có hình thái và tỉ lệ khác nhau ở lứa tuổi khác nhau, vì hầu hết bệnh nhân chàm thể tạng có da khô và bong vảy ở một vài thời điểm nên bệnh này được thảo luận ở bệnh da có vảy.

Xem theo danh mục