Herpes simplex: vết loét do lạnh và do sốt

Ngày: 2016-6-17

By member of dieutri.vn

Triệu chứng cơ bản của herpes simplex là đau rát. Đau dây thần kinh có thể có trước hoặc có đồng thời với các triệu chứng khởi phát.

Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán

Từng nhóm mụn nước nhỏ trên nền da đỏ, đặc biệt khu trú ở vùng quanh miệng và vùng sinh dục. Bệnh hay tái phát.

Bệnh có thể xảy ra sau một nhiễm khuẩn nhẹ, xây xưâc, stress hoặc tiếp xúc với ánh nắng, hạch lân cận có thể sưng to và mềm.

Xét nghiệm chẩn đoán tế bào Tzanck thấy có tế bào đa nhân khổng lồ, nuôi cấy tìm virus, xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang gắn men (ELISA) và miễn dịch huỳnh quang dương tính.

Đánh giá chung

Trên 85% người lớn có phản ứng huyết thanh dương tính với virus herpes simplex typ 1, hầu hết những người này không có triệu chứng mắc bệnh khi còn nhỏ. Hoặc đôi khi, bệnh có biểu hiện như một viêm lợi nặng khi còn ở lứa tuổi nhỏ. Rồi sau đó, bệnh thường tái phát sau sốt, sau nhiễm virus, khi mệt mỏi, kỳ kinh nguyệt và những yếu tố khác như nắng, gió rồi bệnh lại tự khỏi. Ở những bệnh nhân AIDS và hiếm khi cả ở một số người có hệ miễn dịch bình thường, herpes simplex typ 1 có thể gây viêm não đơn phát.

Herpes simplex typ 2 gây ra các thương tổn ở vùng sinh dục có hình thái và có tiến triển bệnh giống nhau ở cả hai giới. Bệnh lây truyền qua đường tình dục, và thường không có triệu chứng. Một nghiên cứu mới đây ở những đôi có quan hệ đồng tình luyến ái, trong đó một người bị nhiễm herpes simplex typ 2 thì khả năng truyền bệnh cho người không bị nhiễm là 10% trong thời gian một năm. Có tới 70% trường hợp bị lây nhiễm như vậy trong giai đoạn lây lan không triệu chứng. Khả năng nữ bị nhiễm nhiều hơn nam, đặc biệt, khi họ có huyết thanh âm tính với herpes simplex typ 1. Viêm tủy cắt ngang, đau do viêm thần kinh khi thương tổn có ở vùng cùng cụt, và viêm não là những biến chứng hiếm gặp.

Tríệu chứng và dấu hiệu

Triệu chứng cơ bản của herpes simplex là đau rát. Đau dây thần kinh có thể có trước hoặc có đồng thời với các triệu chứng khởi phát. Thương tổn cơ bản gồm các nhóm mụn nước nhỏ, khu trú ở bất cứ nơi nào trên cơ thể nhưng thường khu trú ở môi, miệng và mông. Các hạch lympho lân cận có thể sưng và đau. Cuối cùng thương tổn đóng vảy và hết viêm nhiễm sau khi vảy bong. Đã chứng minh được là các bệnh nhân này có thể được giáo dục y tế để nhận biết được mỗi lần phát bệnh mà trước đây họ không nhận biết được đây là tái phát của herpes simplex. Virus herpes cũng có thể gây ra đau mạn tính, loét quanh hậu môn ở những bệnh nhân AIDS.

Cận lâm sàng

Những thương tổn mà lâm sàng chẩn đoán như là hạ cam, giang mai, viêm da mủ, hoặc xây xước do sang trấn đều có thể tìm thấy nhiễm virus herpes simplex khi nuôi cấy. Xét nghiệm tìm kháng thể bằng phương pháp kháng thể miễn dịch huỳnh quang trực tiếp cho chẩn đoán nhanh và nhạy. Nuôi cấy virus mặc dù độ nhạy không cao, nhưng cũng rất có ích để khẳng định chẩn đoán lâm sàng.

Chẩn đoán tế bào Tzanck cho thấy có tế bào đa nhân khổng lồ là một xét nghiệm kém nhạy nhất, nhưng nó cũng có giá trị và dễ tiến hành để chẩn đoán herpes simplex, zona.

Biến chứng

Các biến chứng gồm viêm da mủ, chàm hóa, herpes đầu ngón tay, herpes thượng bì ở những người đô vật lây truyền do tiếp xúc, viêm thực quản, truyền cho bào thai qua nhau thai, viêm kết mạc và viêm não nguy kịch.

Dự phòng

Dự phòng bằng cách uống acyclovir có thể phòng được một số trường hợp tái phát, nhưng không phải phòng được tất cả các trường hợp tái phát mà có thể biết trước như tái phát do ánh nắng hoặc tái phát trước khi hành kinh. Nên điều trị dự phòng bằng cách bắt đầu với liều acyclovir 200 mg uống 5 lần một ngày, uống trước 24 giờ trước khi ra tiếp xúc với ánh nắng. Kem chống nắng cũng có thể mang lại kết quả tốt trong phòng chống tái phát do ánh nắng.

Điều trị

Điều trị toàn thân

Acylovir có tác dụng toàn thân (tiêm tĩnh mạch hoặc uống), và khi thuốc được sử dụng đúng thì thuốc sẽ không độc. Đối với khởi phát của herpes sinh dục, uống 200 mg acyclovir 5 lần một ngày, hoặc 400mg 3 lần một ngày, hoặc 800 mg 2 lần một ngày uống trong 10 ngày có thể làm rút ngắn giai đoạn lây lan bệnh và làm giảm các triệu chứng đau, đóng vảy và các triệu chứng khác, thúc đẩy quá trình lành bệnh. Acyclovir cũng có tác dụng dự phòng herpes sinh dục tái phát nếu được dùng với liều ức chế 200 mg 3 lần một ngày hoặc 400 mg 2 lần một ngày duy trì. Nếu bệnh tái phát không thường xuyên (cứ 3 - 6 tháng tái phát một lần), thì điều trị từng đợt như mô tả ở trên có tác dụng làm ngắn thời gian tái phát và sự lây lan của virus xuống vài ngày kể từ khi dấu hiệu hoặc triệu chứng tái phát đâu tiên xuất hiện. Dùng acyclovir trong thời gian dài có hiệu qủa tốt và an toàn. Acyclovir không có tác dụng điều trị trong trường hợp họng và miệng trợt ra không triệu chứng.

Liệu pháp tại chỗ

Bôi tại chỗ đặc biệt không có tác dụng, tranh cãi nhất là loại mỡ acyclovir 5%, nếu được dùng như thế, sẽ bị hạn chế sử dụng đối với các chỉ định hạn hẹp mà đã được chuẩn y, có nghĩa bị herpes sinh dục và herpes niêm mạc khởi phát ở trên những bệnh nhân có tổn thương về miễn dịch, bởi vì sự thúc đẩy khuynh hướng kháng thuốc của virus và khả năng thay đổi của thuốc. Có nhiều trường hợp kháng thuốc ở những bệnh nhân có thương tổn về hệ miễn dịch và một bệnh nhân có hệ có hệ miễn dịch hoàn toàn bình thường đã được thông báo. Quần áo và khăn của bệnh nhân có thể nhiễm virus trong một vài giờ vì vậy bệnh nhân cần được cách ly với các thành viên khác trong gia đình.

Tiên lượng

Bên cạnh các biến chứng đã được nêu ở trên, mỗi đợt tái phát kéo dài vài ngày và bệnh khỏi không để lại di chứng.