Viêm da do ánh nắng (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 9 - 7 - 2016

Phản ứng viêm da cấp tính, nếu đủ nặng thường kèm theo đau, triệu chứng đường ruột, khó chịu và thậm chí kiệt sức, điều này ít xẩy ra.


Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán

Ban đỏ, phù và nổi mụn nước ở những vùng tiếp xúc với ánh nắng như ở mặt, cổ, tay, và vùng "V" trước ngực.

Vùng dưới cằm và mi mắt trên không có thương tổn.

Nhận định chung

Viêm da do ánh nắng là một phản ứng viêm da cấp hay mạn tính do tiếp xúc quá nhiều hay quá nhạy cảm với ánh nắng hoặc các nguồn tia khác, chất gây cho da nhạy cảm với ánh nắng là một số thuốc, hoặc do đặc ứng với ánh nắng trong một số rối loạn toàn thân như bệnh rối loạn chuyển hóa và nhiều rối loạn bẩm sinh khác (phenylketon niệu, khô da sắc tố, và một số khác). Viêm da tiếp xúc do nhạy cảm ánh nắng co thể xảy ra do nước hoa, chất chống nhiễm khuẩn và một số hóa chất khác.

Viêm da do ánh nắng được biểu thị chung nhất như là nhạy cảm ánh nắng những cá thể có xu hướng dễ bị cháy nắng hơn bình thường - hoặc hiếm hơn, như dị ứng với ánh sáng, một phản ứng miễn dịch thực sự thường biểu hiện bằng các thương tổn sẩn hay mụn nước.

Triệu chứng và dấu hiệu

Phản ứng viêm da cấp tính, nếu đủ nặng thường kèm theo đau, triệu chứng đường ruột, khó chịu và thậm chí kiệt sức, điều này ít xẩy ra. Các dấu hiệu như đỏ da, phù, mụn nước và chảy nước ở vùng tiếp xúc vối ánh nắng. Thường gây ra hậu quả bong vảy và thay đổi sắc tố. Điểm cơ bản để chẩn đoán là dựạ vào vị trí khu trú của thương tổn đối với ánh nắng, mặc dù những thương tổn có thể lan rộng cùng với thời gian đến những vùng được che phủ. Môi là nơi hay bị trong bệnh thương tổn đa hình thái do ánh nắng, một rối loạn thấy ở những ngựòi sống ở vùng hoang mạc nam Mỹ.

Cận lâm sàng

Xét nghiệm máu, và nước tiểu có giá trị trong chẩn đoán trừ bệnh loạn chuyển hóa porphyrin ở da muộn, mà bệnh này được gợi ý bởi sự có mặt của thương tổn bong nước, sẹo, nang (kích thước 1- 2 mm đường kính) và da ở mu bàn tay bở, rậm lông, test đo độ nhậy cảm ánh sáng có thể cần thiết để xác đinh bước sóng nào gây phản ứng (bước sóng dài, trung bình hay ánh sáng nhìn thấy được).         

Chẩn đoán phân biệt

Có rất nhiều chẩn đoán phân biệt, khi tiền sử về sử dụng thuốc bôi hay thuốc toàn thân là thuốc nhạy cảm với ánh sáng rõ ràng thì không có giá trị, và khi thương tổn tồn tại lâu và tiến triển nặng lên thì cần phải làm sinh thiết da và test ánh sáng. Viêm da do ánh nắng cần phải được phân biệt với viêm da tiếp xúc là bệnh có thể gây nên bởi một trong nhiều chất có trong dung dịch hay dầu gây rám nắng, vì những thương tổn này có vị trí khu trú giống nhau. Đôi khi điều này thực hiện khi không có test ánh sáng bằng cách bôi lại một cách cẩn thận chất đó vào mặt trước cánh tay hoặc sau lưng hàng ngày trong vòng 1- 2 tuần và tránh tiếp xức với ảnh sáng. Nhậy cảm với ánh nắng cũng có thể là một phần của một loại yếu tố như bệnh loạn chuyển hóa porphyrin đa muộn và loại loạn chuyển hóa porphyrin khác, hoặc luput ban đỏ. Những rối loạn này được chẩn đoán bằng xét nghiệm máu và nước tiểu thích hợp. Rối loạn chuyển hóa protoporphria trong tạo hòng cầu là một rối loạn hiếm gặp ở trẻ nhỏ, và bệnh pellagra là một bệnh không thường gặp ở Mỹ; Những chất gây nhạy cảm ánh nắng là phenothiazin, sulfon, chlorothiazid, gryseofulvin, thuốc chống đái tháo đường loại uống, thuốc chống viêm không storoid và một vài loại kháng sinh (tetracyclin). Viêm da đa dạng do ánh nắng là một bệnh viêm da tự - phát hay gặp ở cả nam và nữ, bệnh thường phát ở tuổi 30 - 40 trừ ở người Mỹ thổ dân thì bệnh thường biểu hiện ở trẻ em. Viêm da đa dạng do ánh nắng là một bệnh mạn tính trong tự nhiên trừ khi hạn chế nhạy cảm ánh nắng trong một thời gian dài. Bệnh có thể thuyên giảm trong một thời giam nhất thời, và nguy cơ phát triển bệnh luput ban đỏ và có lẽ một số rối loạn miễn dịch khác là không đáng kể. Phổ hoạt động thường nằm trong bước sóng cực tím UV cả loại dài (320 - 400nm) và loại ngắn (< 320 nm). Nguyên nhân gây viêm da do tiếp xúc ánh nắng có thể là salicylanilid halogen hóa (một chất chống khuẩn trong xà phòng, kem).

Biến chứng

Sự tích Iuỹ chậm tác động lên da của người có da trắng gây bệnh dày sừng và ung thư da. Môt vài người tiếp tục là người phản ứng vội ánh nắng một cách mạn tính thậm chí khi họ không còn dùng các thuốc gây nhạy cảm và độc với ánh nắng.

Phòng bệnh

Kem chống nắng là một chất có lợi cho những người nhậy cảm ánh nắng, những bệnh nhân có phản ứng điển hình với một lượng nhỏ ánh nắng thì kem chống nắng đơn độc có thể không đủ. Có thể bôi các chất chống nắng trong kem chống nắng (như PABA và oxybenzon hay dioxybenzon) trước khi ra nắng, mặc dù đôi khi bản thân PABA và oxybenzon có thể gây nhậy cảm ánh nắng và gây viêm da tiếp xúc dị ứng, có một vài loại kem chống nắng không chứa PABA có hiệu quả lớn, nhưng các loại kem chống nắng thông thường thì dự phòng: chống các tia UVB gây "bỏng" có bước sóng trung bình mà không chống được UVA gây "rám" nắng có bước sóng dài là nguyên nhân của hầu hết các nhiễm độc da do ánh nắng có liên quan tới thuốc. Nên dùng các loại kem chống nắng ít nhất có 1,5 SPF và SPF > 15 cần thiết cho những bệnh nhân nhạy cảm, với ảnh nắng.

Điều trị

Liệu pháp đặc hiệu

Điều quan trọng đầu tiên là xác định và tránh các tác nhân gây bệnh. Thuốc sẽ được dùng trong trường hợp dị ứng ánh nắng thậm chí những thuốc đặc biệt (như hydrochlorothỉazid) đã được dùng trong hàng tháng.

Liệu pháp tại chỗ

Điều trị tại chỗ cũng giống như điều trị các viêm đa cấp tính khác, trước hết dùng biện pháp đắp gạc lạnh với nước muối sinh lý, bicarbonat, hoặc aluminum subacetat và tiếp theo dùng hồ nước hoặc dung dịch bột. Do tác dụng của băng bịt, không nên dùng thuốc dạng mỡ trong khi thương tổn vẫn còn mụn nước và còn ướt.

Nên dùng kem chống nắng như đã nói ở phần trên để phòng bệnh. Thuốc bôi corticoid loại mạnh và loại trung bình thì hạn chế tác dụng trong phản ứng nhiễm độc do ánh nắng nhưng lại có tác dụng trong viêm da đa dạng do ánh nắng và phản ứng dị ứng do ánh nắng, vì thương tổn thường khu trú ở vùng mặt, nên theo dõi sát sao 2 tuần/lần để tránh tác dụng ngoài ý muốn của steroid loại mạnh.

Liệu pháp toàn thân

Đối với cảm giác đau và sốt trong bỏng nắng cấp thì aspirin có thể có giá trị, vì prostaglandin xuất hiện và đóng vai trò sinh bệnh trong giai đoạn đầu của triệu chứng đỏ da. Corticosteroid với liều như đã nói trong viêm da tiếp xúc cấp tính có thể dùng cho viêm da do nhậy cảm ánh nắng thể nặng. Nói cách khác viêm do ánh nắng khác nhau có thể được điều trị bằng những biện pháp khác nhau. Trích máu tĩnh mạch, cho phép 500 ml 2 tuần một lần, đây là phương pháp được chọn đầu tiên để điều trị bệnh loạn chuyển hóa porphyrin ở da muộn có thể gây thiếu máu và hạ huyết áp. Có thể dùng thuốc chống sốt rét như chloroquin và hydroxychloroquin liều rất thấp để điều trị loạn chuyển hóa porphyrin ở da muộn nhưng phải cẩn thận để tránh độc cho gan. Không được uống rượu vì gây độc cho gan.

Đối với đợt phát bệnh của viêm da đa dạng do ánh nắng, có thể dùng triamcinolon acetonid dạng huyền dịch 40 mg tiêm mông sâu.

Liệu pháp PUVA (psoralen cộng UVA) có thể là một phương pháp điều trị quan trọng đối với viêm da đa dạng do ánh sáng và những viêm da tự phát do nhạy cảm với ánh sáng khác, có lẽ do thay đổi miễn dịch ở da. Điều này thường phải được thực hiện dưới sự giám sát chặt chẽ, khi dùng chất nhạy cảm ánh nắng và nguồn ánh sáng nhân tạo hoặc ánh nắng sáng mặt trời, và điều trị bằng steroid toàn thân thì đòi hỏi thường xuyên kiểm tra sự bùng lên ban đầu của bệnh. Cần kiểm tra mắt trước khi điều trị, và phải đeo kính bảo vệ mắt khi ra ngoài trong 24 giờ sau khi dùng psoralen.

Bệnh nhân nhạy cảm nhiều với ánh nắng có thể cần dùng thuốc ức chế miễn dịch như azathioprin 50 - 150 mg/ngày.

Tiên lượng

Phản ứng bỏng nấng do nhiễm độc ánh sáng hay gặp nhất thường lành tính và tự lành trừ khi bỏng quá nặng hoặc có kết hợp với một rối loạn khác nặng hơn. Viêm da đa dạng do ánh nắng và một vài trường hợp dị ứng ánh nắng khác có thể tồn tại hàng năm.


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn sắc tố da (chẩn đoán và điều trị)

Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.

Hồng ban đa dạng (chẩn đoán và điều trị)

Hồng ban đa dạng là một bệnh da cấp tính đa hình thái do nhiều nguyên nhân gây nên hoặc do một nguyên nhân không xác định.

Hồng ban nút (chẩn đoán và điều trị)

Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.

Viêm da bong vảy (chứng đỏ da tróc vảy, chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.

Viêm da dị ứng tiếp xúc (chẩn đoán và điều trị)

Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.

Bệnh Zona (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.

Bệnh vảy nến (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Tổ đỉa (chẩn đoán và điều trị)

Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.

Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da

Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.

Bệnh Pemphigus (chẩn đoán và điều trị)

Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.

Viêm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Tàn nhang và nốt ruồi, dày sừng da mỡ (chẩn đoán và điều trị)

Những thương tổn này thường tăng số lượng tế bào sắc tố, và chúng không bị nhạt màu đi khi không còn tiếp xúc với ánh nắng, chúng được coi như tất cả các thường tổn sắc tố khác.

Viêm da dạng herpes (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.

Viêm da tiết bã nhờn và bệnh gàu (chẩn đoán và điều trị)

Có thể có ngứa nhưng không tồn tại hằng định. Các vùng da đầu, mặt, ngực, lưng, rốn, các nếp của da có thể nhờn hoặc khô với vảy khô hoặc vảy vàng nhờn. Bờ mi cũng có thể có tổn thương.

Lang ben (chẩn đoán và điều trị)

Dát nhạt màu cần chẩn đoán phân biệt với bạch biến, dựa vào sự xuất hiện các thương tổn. Bạch biến thường khu trú ở vùng quanh hốc tự nhiên và đầu ngón tay.

Chàm thể tạng (bệnh da có vảy, chẩn đoán và điều trị)

Chàm thể tạng có hình thái và tỉ lệ khác nhau ở lứa tuổi khác nhau, vì hầu hết bệnh nhân chàm thể tạng có da khô và bong vảy ở một vài thời điểm nên bệnh này được thảo luận ở bệnh da có vảy.

Bệnh nấm candida da và niêm mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt với viêm kẽ, viêm da đầu, nấm kẽ, vảy nến thể đảo ngược và bệnh nấm Corynebacterium minutissimum.

Viêm nang lông (bao gồm cả viêm nang râu và loét mi mắt)

Viêm nang lông do vi khuẩn gram âm, bệnh thường phát triển ở những người đang điều trị trứng cá bằng kháng sinh, có thể bệnh biểu hiện như một đợt bột phát của trứng cá mủ và trứng cá nốt.

Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.

Viêm da thần kinh (liken thường mạn tính, chẩn đoán và điều trị)

Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa gãi tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân.

Nấm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.

Chốc (chẩn đoán và điều trị)

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn lâm sàng là các dát, mụn nước, bọng nước, mụn mủ, và vảy tiết màu vàng sáp ong dính. Khi cậy bỏ vảy sẽ để lại vết trợt màu đỏ.

Ung thư sắc tố (chẩn đoán và điều trị)

Tử vong do ung thư sắc tố đang tăng với tỉ lệ nhanh hơn so với tỉ lệ tử vong do các loại ung thư khác, trừ ung thư phổi. Tuổi trung bình chết do ung thư sắc tố ít hơn do các loại ung thư da khác.

Ban nấm da (dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm, chẩn đoán và điều trị)

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.

Bệnh nấm móng (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm móng thường khó điều trị vì đòi hỏi thời gian điều trị dài và bệnh hay tái phát. Nấm móng tay đáp ứng điều trị tốt hơn nấm móng chân.

Xem theo danh mục