Bệnh chấy rận (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 5 - 7 - 2016

Nhiễm rận ở mu rất ít thấy, đặc biệt dễ gặp ở những người lông rậm; thậm chí có thể tìm thấy rận ở lông mi và ở da đầu.


Những điểm thiết yếu cho chẩn đoán

Ngứà kèm theo tróc da.

Trứng trên thân tóc; rận trên da hoặc quần áo.

Đôi khi có các vết màu xanh da trời (maculae ceruleae) trên mặt đùi trong hoặc ở bụng dưới trong các trường họp nhiễm rận mu.

Nhận định chung

Chấy rận là bệnh nhiễm động vật ký sinh trên da đầu, thân hoặc vùng mu. Nó thường gặp ở những người sống ở khu dân cư quá đông với các phưong tiện vệ sinh không đầy đủ, tuy nhiên rận mu có thể truyền qua quan hệ tình dục. Chấy rận trên đậu có thể lây do dùng chung mù hoặc lược và có thể lây lan rất nhanh trong nhóm trẻ ở trường học

Có 3 loại khác nhau: (1) rận mu, do Pthirus pubis gây ra (rận mu) (2) rận thân, do Pediculus humanus corporis gây ra (rận thân thể); và (3) chấy trên đầu, do Pediculus humanus capitis gây ra (chấy đầu).

Chấy rận trên đầu và trên thân có diện mạo tương tự nhau và dài 3 - 4mm. Rận trên thân thỉnh thoảng mới tìm thấy trên thân thể vì côn trùng chỉ đi trên da để kiếm ăn và cần phải tìm chúng ở các đường nối của đồ lót. Sốt chiến hào, sốt tái phát và sốt rickettsia lây truyền qua rận trên người ở những nước mà ở đó các bệnh này là đặc hữu.

Lâm sàng

Nhiễm rận trên thân thể có thể gây ngứa mạnh và gãi có thể gây tróc da sâu ở những vùng bị ngứa. Trong một số trường họp, chỉ có biểu hiện ngứa với một số chỗ tróc da. Viêm da mủ có thể là dấu hiệu biểu hiện của bất kỳ dạng nào trong các bệnh nhiễm loại này. Chấy trên đầu có thể tìm thấy trên da đầu hoặc biểu hiện thành các ổ trứng nhỏ giống một cái nụ liễu dạng đuôi sóc ở trên tóc gần da đầu. Dễ thấy nhất là ở trên tai và ở gáy. Rận trên thân thể đẻ trứng dễ nhìn thấy trên lông mịn trên cơ thể. Nhiễm rận ở mu rất ít thấy, đặc biệt dễ gặp ở những người lông rậm; thậm chí có thể tìm thấy rận ở lông mi và ở da đầu.

Chẩn đoán phân biệt

Cần phải phân biệt chấy ở đầu với bệnh viêm da bã nhờn, nhiễm rận trên cơ thể với ghẻ, và nhiêm rận ở mu với ngứa vùng hậu môn sinh dục và eczema.

Điều trị

Đối với tất cả các dạng chấy rận, người ta rất hay dùng lindan (Kwell, Scabene). Bôi một lớp mỏng lên vùng bị nhiễm và các vùng có lông lân cận. Rửa sạch kỹ lưỡng sau 12 tiếng. Những trứng rận còn sót lại có thể lấy đi bằng chải lược bí. Cần phải điều trị cho người có tiếp xúc tình dục.

Kem rửa permethrin 1% là một thuốc bôi tại chỗ diệt chấy rận và trứng trong điều trị chấy trên đầu và trứng. Bôi lên tóc và da đầu rồi để 10 phút trước khi gội kỹ bằng nước sạch, cần xử lý mỗi tuần một lần. Kem permethrin 1% có hiệu quả hon pyrethrin đồng vận, các sản phẩm OTC dùng không pha loãng bôi cho tới khi vùng bị nhiễm ướt hết. Sau 10 phút, rửa sạch vùng bôi thuốc bằng nước ấm và xà phòng rồi để khô. Trứng có thể điều trị như trên. Đối với lông mi bôi petrolatum dày, hai lần một ngày trong 8 ngày, trứng còn lại có thể búng hết sau đó.


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn sắc tố da (chẩn đoán và điều trị)

Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.

Hồng ban đa dạng (chẩn đoán và điều trị)

Hồng ban đa dạng là một bệnh da cấp tính đa hình thái do nhiều nguyên nhân gây nên hoặc do một nguyên nhân không xác định.

Hồng ban nút (chẩn đoán và điều trị)

Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.

Viêm da bong vảy (chứng đỏ da tróc vảy, chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.

Viêm da dị ứng tiếp xúc (chẩn đoán và điều trị)

Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.

Bệnh Zona (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.

Bệnh vảy nến (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Tổ đỉa (chẩn đoán và điều trị)

Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.

Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da

Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.

Bệnh Pemphigus (chẩn đoán và điều trị)

Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.

Viêm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Tàn nhang và nốt ruồi, dày sừng da mỡ (chẩn đoán và điều trị)

Những thương tổn này thường tăng số lượng tế bào sắc tố, và chúng không bị nhạt màu đi khi không còn tiếp xúc với ánh nắng, chúng được coi như tất cả các thường tổn sắc tố khác.

Viêm da dạng herpes (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.

Viêm da tiết bã nhờn và bệnh gàu (chẩn đoán và điều trị)

Có thể có ngứa nhưng không tồn tại hằng định. Các vùng da đầu, mặt, ngực, lưng, rốn, các nếp của da có thể nhờn hoặc khô với vảy khô hoặc vảy vàng nhờn. Bờ mi cũng có thể có tổn thương.

Lang ben (chẩn đoán và điều trị)

Dát nhạt màu cần chẩn đoán phân biệt với bạch biến, dựa vào sự xuất hiện các thương tổn. Bạch biến thường khu trú ở vùng quanh hốc tự nhiên và đầu ngón tay.

Chàm thể tạng (bệnh da có vảy, chẩn đoán và điều trị)

Chàm thể tạng có hình thái và tỉ lệ khác nhau ở lứa tuổi khác nhau, vì hầu hết bệnh nhân chàm thể tạng có da khô và bong vảy ở một vài thời điểm nên bệnh này được thảo luận ở bệnh da có vảy.

Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.

Bệnh nấm candida da và niêm mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt với viêm kẽ, viêm da đầu, nấm kẽ, vảy nến thể đảo ngược và bệnh nấm Corynebacterium minutissimum.

Viêm nang lông (bao gồm cả viêm nang râu và loét mi mắt)

Viêm nang lông do vi khuẩn gram âm, bệnh thường phát triển ở những người đang điều trị trứng cá bằng kháng sinh, có thể bệnh biểu hiện như một đợt bột phát của trứng cá mủ và trứng cá nốt.

Viêm da thần kinh (liken thường mạn tính, chẩn đoán và điều trị)

Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa gãi tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân.

Nấm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.

Chốc (chẩn đoán và điều trị)

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn lâm sàng là các dát, mụn nước, bọng nước, mụn mủ, và vảy tiết màu vàng sáp ong dính. Khi cậy bỏ vảy sẽ để lại vết trợt màu đỏ.

Ung thư sắc tố (chẩn đoán và điều trị)

Tử vong do ung thư sắc tố đang tăng với tỉ lệ nhanh hơn so với tỉ lệ tử vong do các loại ung thư khác, trừ ung thư phổi. Tuổi trung bình chết do ung thư sắc tố ít hơn do các loại ung thư da khác.

Ban nấm da (dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm, chẩn đoán và điều trị)

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.

Nấm tóc (chẩn đoán và điều trị)

Hầu hết các trường hợp nhiễm nấm đều không có triệu chứng. Các thương tổn giống chốc và kerion có thể nổi bật bằng sự đau đớn. Cần khám tất cả các trương hợp có vảy mà không có viêm.

Xem theo danh mục