Ngứa ở vùng hậu môn sinh dục (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 5 - 7 - 2016

Ở phụ nữ ngứa hậu môn đơn thuần rất hiếm còn ngứa âm hộ không phải lúc nào cũng đi kèm ngứa vùng hậu môn, mặc dù ngứa hậu môn thì thường lan tới âm hộ.


Những điểm thiết yếu để chẩn đoán

Ngứa ở vùng hậu môn sinh dục chủ yếu về đêm.

Kết quả khám rất thay đổi, có thể là không có phản ứng da đến mức sầy da và rát bỏng ở mọi cấp độ gồm cả liken hóa.

Nhận định chung

Hầu hết các trường hợp đều không có nguyên nhân rõ ràng nhưng có thể xác định được nhiều nguyên nhân đặc trưng. Ngứa ở vùng hậu môn sinh dục có thể có cùng nguyên nhân như viêm kẽ, liken thường mạn tính hoặc tăng tiết nhờn hoặc viêm da tiếp xúc (do xà phòng, nước hoa, nước tắm, phương tiện tránh thai), hoặc có thể có nguyên nhân do các chất tiết kích thích như trong bệnh tiêu chảy, khí hư hoặc bệnh do Trichomonas, hoặc do bệnh tại chỗ (bệnh nấm candida, bệnh nấm da, bệnh nấm Corynebacterium minutissimum). Bệnh vảy nến hoặc bệnh viêm da bã nhờn cũng có thể là nguyên nhân. Thiếu sạch sẽ cũng có thể gây ngứa. Các endopeptidase của các vi khuẩn trong phân cũng có vai trò là nguyên nhân gây ngứa hậu môn.

Có rất nhiều phụ nữ bị ngứa âm hộ. Ở phụ nữ ngứa hậu môn đơn thuần rất hiếm còn ngứa âm hộ không phải lúc nào cũng đi kèm ngứa vùng hậu môn, mặc dù ngứa hậu môn thì thường lan tới âm hộ. Ở đàn ông ngứa dưong vật không phổ biến bằng ngứa hậu môn. Khi đã loại bỏ mọi nguyên nhân, thì có thể chẩn đoán là ngứa tự phát hoặc ngứa bản chất, không hiếm gặp.

Kiểm tra soi trực tràng kết tràng xích ma ít khi có ích. Ở người lớn ít khi nguyên nhân là giun kim. Các bất thường tâm lý thường không rõ ràng. Liken xơ hóa và teo có thể cũng là nguyên nhân nhưng các thay đổi bệnh học lớn thường thấy rõ trong rối loạn này. Có khả năng bệnh này phổ biến hơn so với ta vẫn hình dung đặc biệt là ở các cô gái trẻ. Bệnh nấm Corynebacterium minutissimum dễ dàng chẩn đoán bằng huỳnh quang đỏ đèn Wood, có thể chữa khỏi dê dàng bằng erythromycin uống và bôi.

Dấu hiệu và triệu chứng

Triệu chứng duy nhất là ngứa, chủ yếu là về đêm. Thường không thấy có các dấu hiệu lâm sàng nhưng có thể là ban đỏ, nứt, liken hóa, tróc da hoặc các biến đổi khiến người ta nghĩ tới bệnh nấm candida, bệnh nấm da.

Cận lâm sàng

Xét nghiệm nước tiểu và đường trong máu có thể dẫn tới chẩn đoán bệnh tiểu đường. Kiểm tra dưới kính hiển vi hoặc nuôi cấy mô từ các mảnh nạo da có thể thấy có các nấm men, nấm, hoặc ký sinh trùng. Xét nghiệm phân có thể cho thấy các ký sinh trùng đường ruột.

Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán phân biệt căn nguyên bao gồm nhiễm nấm candida, ký sinh trùng, kích thích cục bộ do tiếp xúc với thuốc hoặc chất kích thích và các rối loạn tiên phát ở da vùng sinh dục như vảy nến, viêm da bã nhờn; viêm kẽ, hoặc liken xơ hóa và teo.

Phòng tránh

Hướng dẫn bệnh nhân vệ sinh vùng sinh dục thích hợp sau khi điều trị toàn thân hoặc tại chỗ.

Điều trị

Liệu pháp chung

Điều trị táo bón bằng các sản phẩm nhiều xơ (cây mã đề bọ chét Metamucil và các loại khác) có thể hữu ích. Hướng dẫn bệnh nhân dùng các giấy rất mềm và ẩm hoặc khăn bông thấm sau khi đại tiện và làm sạch vùng quanh hậu môn kỹ lưỡng bằng nước sạch. Nếu có thể, phụ nữ nên lau sau khi tiểu tiện. Hướng dẫn bệnh nhân về tác hại của việc gãi.

Liệu pháp tại chỗ

Có thể dùng kem pramoxin hay hydrocortison - pramoxin (Pramosone), kem 1% hoặc 2,5% để giảm ngứa ở vùng hậu môn sinh dục. Nên bôi kem hoặc mỡ trước và sau khi đại tiện. Cũng có thể dùng kem iodochlorhydroxyquin - hydrocortison nhưng thuốc này có thể làm dây bẩn màu ra quần lót. Nếu dùng corticosteroid bôi có fluorinat loại mạnh nhiều hơn một vài ngày có thể dẫn đến chứng teo và rạn. Ngâm rửa một ngày hai lần nitrat bạc, 1: 10000 - 1: 200; permanganat kali 1: 10000; hoặc dung dịch aluminum subacetat 1: 20 rất tốt nếu vùng bị ngứa bỏng rát và rỉ nước.

Cần phải thay đồ lót hàng ngày. Có thể dùng dung dịch Castellani để bôi vào chỗ ngứa. Đối với chứng ngứa hậu môn, dùng nước rửa, ngậm vùng quanh hậu môn hoặc miếng lót làm ẩm, mỡ hoặc kem Tucks (tất cả các chế phẩm Tuck có chứa nước chiết từ lá khô của cây Hamanmelis virginiana) rất tốt.

Tiên lượng

Mặc dù đây là bệnh lành tính nhưng ngứa vùng hậu môn sinh dục có thể kéo dài và tái phát.


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn sắc tố da (chẩn đoán và điều trị)

Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.

Hồng ban đa dạng (chẩn đoán và điều trị)

Hồng ban đa dạng là một bệnh da cấp tính đa hình thái do nhiều nguyên nhân gây nên hoặc do một nguyên nhân không xác định.

Hồng ban nút (chẩn đoán và điều trị)

Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.

Viêm da bong vảy (chứng đỏ da tróc vảy, chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.

Viêm da dị ứng tiếp xúc (chẩn đoán và điều trị)

Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.

Bệnh Zona (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.

Bệnh vảy nến (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Tổ đỉa (chẩn đoán và điều trị)

Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.

Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da

Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.

Bệnh Pemphigus (chẩn đoán và điều trị)

Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.

Viêm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Tàn nhang và nốt ruồi, dày sừng da mỡ (chẩn đoán và điều trị)

Những thương tổn này thường tăng số lượng tế bào sắc tố, và chúng không bị nhạt màu đi khi không còn tiếp xúc với ánh nắng, chúng được coi như tất cả các thường tổn sắc tố khác.

Viêm da dạng herpes (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.

Viêm da tiết bã nhờn và bệnh gàu (chẩn đoán và điều trị)

Có thể có ngứa nhưng không tồn tại hằng định. Các vùng da đầu, mặt, ngực, lưng, rốn, các nếp của da có thể nhờn hoặc khô với vảy khô hoặc vảy vàng nhờn. Bờ mi cũng có thể có tổn thương.

Lang ben (chẩn đoán và điều trị)

Dát nhạt màu cần chẩn đoán phân biệt với bạch biến, dựa vào sự xuất hiện các thương tổn. Bạch biến thường khu trú ở vùng quanh hốc tự nhiên và đầu ngón tay.

Chàm thể tạng (bệnh da có vảy, chẩn đoán và điều trị)

Chàm thể tạng có hình thái và tỉ lệ khác nhau ở lứa tuổi khác nhau, vì hầu hết bệnh nhân chàm thể tạng có da khô và bong vảy ở một vài thời điểm nên bệnh này được thảo luận ở bệnh da có vảy.

Bệnh nấm candida da và niêm mạc (chẩn đoán và điều trị)

Cần chẩn đoán phân biệt với viêm kẽ, viêm da đầu, nấm kẽ, vảy nến thể đảo ngược và bệnh nấm Corynebacterium minutissimum.

Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.

Viêm nang lông (bao gồm cả viêm nang râu và loét mi mắt)

Viêm nang lông do vi khuẩn gram âm, bệnh thường phát triển ở những người đang điều trị trứng cá bằng kháng sinh, có thể bệnh biểu hiện như một đợt bột phát của trứng cá mủ và trứng cá nốt.

Viêm da thần kinh (liken thường mạn tính, chẩn đoán và điều trị)

Cách giải thích cổ điển về viêm da thần kinh là biểu hiện một chu kỳ ngứa gãi tự hết, nhưng không có bằng chứng cho rằng đây là nguyên nhân duy nhất gây nên do thói quen của bệnh nhân.

Nấm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.

Chốc (chẩn đoán và điều trị)

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn lâm sàng là các dát, mụn nước, bọng nước, mụn mủ, và vảy tiết màu vàng sáp ong dính. Khi cậy bỏ vảy sẽ để lại vết trợt màu đỏ.

Ung thư sắc tố (chẩn đoán và điều trị)

Tử vong do ung thư sắc tố đang tăng với tỉ lệ nhanh hơn so với tỉ lệ tử vong do các loại ung thư khác, trừ ung thư phổi. Tuổi trung bình chết do ung thư sắc tố ít hơn do các loại ung thư da khác.

Ban nấm da (dị ứng hoặc nhạy cảm với nấm, chẩn đoán và điều trị)

Ngứa là triệu chứng duy nhất. Thương tổn cơ bản là từng nhóm mụn nước, thường khu trú ở mô cái và mô út. Đôi khi thương tổn khu trú ở mu bàn tay thậm chí có thể ở toàn thân.

Bệnh nấm móng (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nấm móng thường khó điều trị vì đòi hỏi thời gian điều trị dài và bệnh hay tái phát. Nấm móng tay đáp ứng điều trị tốt hơn nấm móng chân.

Xem theo danh mục